vendredi 16 octobre 2026

Doan dai hiep C12

 Chương 12: Nhân Họa Đắc Phúc


Kim Luân Pháp Vương lảo đảo lùi lại, máu tươi nhuộm đỏ ngực áo cà sa.

Trong một khoảnh khắc, lão đứng yên, ánh mắt quét qua bốn người chúng tôi. 

Dương Quá đang ôm vai, Hoàng Dung đứng che trước Quách Phù, Tiểu Long Nữ tay nắm chặt dải lụa trắng, còn tôi, thanh kiếm vẫn chĩa thẳng về phía lão.

Lão biết mình bị thương không nhẹ. 

Một đòn của Tiểu Long Nữ, với nội lực không kém Quách Tĩnh bao nhiêu, lại đánh trúng ngay giữa lúc lực cũ đã hết mà lực mới chưa sinh, đã làm chấn động tâm mạch. 

Nếu cố đánh tiếp, lão có thể giết được một hai người trong chúng tôi, nhưng cũng có thể sẽ không bao giờ rời khỏi khu rừng này được nữa.

Lão là người biết tính toán.

Kim Luân Pháp Vương phất tay áo, năm chiếc pháp luân rít lên bay về trong tay lão. 

Rồi không nói một lời, lão xoay người, thân hình lướt đi giữa những tán cây như một con chim lớn bị thương. 

Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba vội vàng chạy theo, không dám ngoái lại.

Khu rừng lặng đi.

Tôi muốn thở ra một hơi. 

Nhưng hơi thở ấy không ra được.

Lúc đó tôi mới nhận ra, nhát kiếm cuối cùng ấy, dù chỉ để thu hút sự chú ý của Kim Luân Pháp Vương, tôi đã dồn vào toàn bộ nội lực, không giữ lại chút nào. 

Nếu lão không bị Tiểu Long Nữ đánh trúng, nếu lão kịp quay lại phản công, tôi đã không còn một sợi chân khí nào để đỡ. 

Đó là một dạng đấu pháp đồng quy vu tận, đặt cược tất cả vào một đòn của người khác.

May mắn thay, giữa tôi và Tiểu Long Nữ như có tâm linh tương thông. 

Nàng đánh ra một đòn dứt điểm cực kỳ chuẩn xác và đúng lúc.

Đan điền trống rỗng. 

Kinh mạch như bị hút cạn. 

Thế giới trước mắt tôi bắt đầu chao đảo, những tán cây xoay tròn, ánh hoàng hôn nhòe ra thành những vệt màu loang lổ.

Thanh kiếm tuột khỏi tay. 

Đầu gối tôi khuỵu xuống.

Rồi một bàn tay đỡ lấy tôi.

Mát lạnh. 

Mềm mại. 

Mang theo mùi hương thanh lạnh như hoa mai trong tuyết, thứ mùi hương mà tôi đã ngửi thấy trong đêm mưa đầu tiên của kiếp này.

Tiểu Long Nữ ở gần tôi nhất. 

Trong vô thức, nàng vươn tay đỡ lấy tôi, để tôi không ngã nhoài ra đất. 

Có lẽ chính nàng cũng không biết vì sao mình làm vậy. 

Đôi mắt nàng mở to, có chút hoảng hốt, như thể bàn tay vừa tự cử động trước cả khi nàng kịp nghĩ.

Trong khoảnh khắc trước khi mọi thứ chìm vào bóng tối, tôi cảm thấy một điều kỳ lạ. 

Ở sâu trong đầu tôi, tinh vân Thế Giới Lực vẫn lặng lẽ xoay tròn bỗng khẽ rung lên, như dây đàn bị ai đó chạm vào. 

Và từ nơi bàn tay nàng chạm vào vai tôi, có một sự đáp lại rất khẽ, rất ấm, như tiếng vọng của chính nó.

Rồi tôi không còn biết gì nữa.

Hoàng Dung bắn pháo tín hiệu. 

Một đóa hoa lửa đỏ rực nở bung trên bầu trời chiều.

Không lâu sau, các đệ tử Cái Bang đang tìm kiếm quanh đó lục tục kéo đến. 

Họ dùng xe ngựa đưa tôi trở về Tương Dương.

Những chuyện này, đều là sau này tôi mới được nghe kể lại.

Tôi ngất đi lần này trọn hai ngày một đêm.

Nhưng trong rủi có may. 

Chính nhờ lần ngất đi ấy, toàn bộ sự xử lý của não bộ tôi đều theo bản năng.

Khi ý thức chìm xuống, lý trí không còn kiểm soát, Vô Danh Công vẫn tự vận hành. 

Những nhịp thở ba hít một ngừng bảy thở ra mà tôi đã luyện đến thuần thục, giờ đây tự diễn ra, không cần ý niệm dẫn dắt. 

Và bản năng ấy, đã được Vô Danh Công điều hướng từ trước, dẫn dắt cơ thể tôi đi theo một con đường mà khi tỉnh táo, tôi không bao giờ dám đi.

Tôi không nhớ được gì nhiều. 

Chỉ là những mảnh vụn, như những giấc mơ chập chờn.

Tôi thấy mình đứng giữa một khoảng không vô tận, đen thẳm như vũ trụ trước khi có ánh sáng. 

Ở chính giữa, tinh vân Thế Giới Lực xoay tròn, lớn hơn tôi từng thấy, sáng hơn, mỗi vòng xoay lại kéo theo những sợi sáng mảnh như tơ. 

Rồi tôi thấy những sợi sáng ấy bắt đầu đan vào nhau, như một cái kén đang được dệt, như đường viền đầu tiên của một thế giới chưa thành hình.

Tiểu thế giới trong thân thể tôi tiến một bước khá dài. 

Dù chưa chính thức khai mở, nhưng nó đã có hình hài đầu tiên.

Và rồi, ở rìa của tinh vân, một tia sáng nhỏ tách ra.

Chỉ là một tia rất nhỏ, như một giọt nước tràn ra khỏi miệng chén. 

Nó trôi xuống, chậm rãi, qua cổ, qua ngực, rồi chui vào đan điền.

Ngay khoảnh khắc nó chạm vào đan điền đã trống rỗng của tôi, mọi thứ thay đổi.

Đan điền vốn như một cái giếng cạn, bỗng như có mạch nước ngầm phun trào. 

Nội lực từ đâu đó tuôn ra, không phải từng giọt mà từng dòng, cuồn cuộn chảy khắp kinh mạch. 

Những đường kinh mạch bị vắt kiệt trong trận chiến, giờ được tưới tắm, nở rộng ra, rồi lại được lấp đầy. 

Rồi lại nở rộng. 

Rồi lại lấp đầy.

Một tia Thế Giới Lực lọt ra, đã khiến nội lực của tôi tăng lên rất nhanh.

Tôi mở mắt.

Trần nhà quen thuộc. 

Gian phòng nhỏ cạnh võ trường trong phủ Quách Tĩnh ở Tương Dương.

Nắng sớm rọi qua song cửa. 

Bên ngoài, tiếng gà gáy, tiếng binh lính đổi gác.

Tôi ngồi dậy, theo thói quen vận khí kiểm tra cơ thể.

Rồi tôi ngồi chết lặng.

Nội lực trong đan điền tôi, hùng hậu đến mức tôi không dám tin. 

Tôi đếm đi đếm lại, đo đi đo lại. 

Chỉ hai ngày một đêm, công lực của tôi đã tăng lên không khác gì mười mấy năm khổ luyện của Doãn Chí Bình trước đây. 

Tức là tăng gấp rưỡi.

Ba mươi năm của Doãn Chí Bình, cộng thêm mười mấy năm nữa, chỉ trong một giấc ngủ.

Xét về độ hùng hậu của nội lực, lúc này tôi đã có thể sánh vai với các cường giả hàng đầu võ lâm. 

So ra vẫn kém Quách Tĩnh, người đã có hai mươi năm luyện Cửu Âm Chân Kinh cùng Hàng Long Thập Bát Chưởng, nhưng với tôi, đây là trợ lực cực lớn.

Tôi bật cười, nụ cười của một kẻ vừa thoát chết lại nhặt được vàng.

Thật là nhân họa đắc phúc. 

Tôi không cần tìm kiếm Cửu Âm Chân Kinh, cũng đạt được sự tăng tiến nội lực rất mạnh.

Với sự tăng tiến như vậy, sau này đối phó với Kim Luân Pháp Vương sẽ không còn phải quá vất vả nữa. 

Có thể tôi vẫn chưa thắng được lão. 

Nhưng cũng không đến mức không chịu nổi một chưởng trực diện của lão như ở Lục Gia Trang.

Tôi ngồi xếp bằng trên giường, nhắm mắt suy ngẫm.

Lấy xảo phá lực. 



Đó là con đường tôi đã đi từ khi có Vô Danh Công. 

Nhưng trận chiến vừa rồi dạy tôi một bài học. 

Nếu lực lượng của đối phương quá mạnh, kỹ xảo tốt đến mấy cũng vô dụng. 

Như con voi chân khí của Kim Luân Pháp Vương ở Lục Gia Trang, không có khe hở nào để Phá Khí Thức chen vào, chỉ có một khối sức mạnh thuần túy đè xuống.

Nhưng nếu lực lượng của đối phương nằm trong mức tôi có thể hứng chịu được, khi ấy, kỹ xảo mới thể hiện ra thế mạnh của mình. 

Có đủ nội lực để đỡ một chiêu, tôi sẽ có thời gian nhìn ra điểm yếu của chiêu tiếp theo. 

Có đủ nội lực để tồn tại, bộ não một trăm phần trăm của tôi mới có cơ hội làm việc.

Lực là cái gốc. 

Xảo là cái ngọn. 

Trước đây tôi chỉ có ngọn mà không có gốc. 

Giờ đây, cái gốc đã bắt đầu vững.

Mấy ngày sau, tôi hồi phục rất nhanh, và mạnh hơn trước nhiều.

Hoàng Dung đến thăm, kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra sau khi tôi ngất. 

Kim Luân Pháp Vương rút về phía bắc. 

Quách Phù bình an vô sự, chỉ bị hoảng sợ, đã được mẹ mắng cho một trận.

Còn Long cô nương… 

Hoàng Dung khẽ dừng lại, nhìn tôi bằng ánh mắt khó đoán. 

Nàng ấy đỡ đạo trưởng suốt cho đến khi người của Cái Bang tới, mới chịu buông tay. 

Tĩnh ca ca cảm kích ơn cứu Phù nhi, đã mời nàng ấy và Quá nhi ở lại Tương Dương một thời gian. 

Hai người đang ở gian khách phòng phía đông.

Nàng nói đến đó thì ngừng, khẽ nhíu mày, như có điều gì vướng bận chưa nói ra.

Tôi không hỏi. 

Tôi biết điều gì khiến nàng phiền lòng.

Tiểu Long Nữ là sư phụ của Dương Quá. 

Nhưng cách hai người họ nhìn nhau, nắm tay nhau, thì chẳng ai có thể nhầm đó là tình thầy trò. 

Trong lễ giáo của thời đại này, sư đồ mà thành tình nhân là chuyện trái luân thường, đủ để cả giang hồ đàm tiếu. 

Ngay cả Quách Tĩnh, người rộng lượng nhất thiên hạ, mấy hôm nay nhìn hai người họ cũng thấy khó chấp nhận, chỉ vì nể ơn cứu mạng mà chưa nói ra.

Ta thấy, mấy hôm nay nàng ấy cứ hay nhìn bàn tay mình. 

Hoàng Dung nói thêm, giọng nhẹ như gió. 

Lại hay đứng ở hành lang phía tây, nhìn về phía gian phòng của đạo trưởng.

Tôi không trả lời. Chỉ khẽ chạm nơi vai áo mà nàng từng chạm vào.

.....

Quách Tĩnh thì mừng ra mặt. 

Hắn đến thăm tôi mỗi ngày, mang theo canh gà, bánh bao, rồi ngồi kể đi kể lại chuyện tôi đánh Hoắc Đô ở Lục Gia Trang cho cả phủ nghe đến thuộc lòng. 

Đến khi tôi đi lại được, việc đầu tiên hắn làm là kéo tôi ra võ trường.

Hiền đệ, lâu rồi chưa luận võ, ta ngứa tay lắm rồi!

Chúng tôi lại đấu với nhau. 

Rồng của hắn vẫn gầm thét, vẫn hùng mạnh như trước. 

Nhưng lần này, khi tôi đánh ra một chưởng Hạo Nguyệt Thiên Quang, đường trăng khuyết sáng bạc không chỉ dẫn lệch đầu rồng mà còn đẩy nó lùi lại cả trượng.

Tôi biết, nếu lúc này dùng toàn lực, tôi hoàn toàn có thể đánh thắng Quách Tĩnh trong tỷ thí. 

Bộ não một trăm phần trăm cộng với nội lực đã gần bằng hắn, những sơ hở trong mỗi chiêu Hàng Long, tôi không chỉ nhìn ra mà còn đủ sức đánh vào.

Nhưng tôi vẫn chỉ duy trì tình trạng đánh hòa.

Đến chiêu cuối, tôi để chưởng của hắn và chưởng của tôi chạm nhau, rồi cùng lùi lại ba bước. 

Quách Tĩnh cười ha hả, vỗ vai tôi như mọi lần.

Sự tiến bộ quá nhanh của một người sẽ rất không bình thường. 

Mười ngày trước tôi còn phải dùng hết sức mới đánh ngang tay với hắn, nay lại dư sức thắng, ai nhìn vào cũng sẽ sinh nghi. 

Mà ở thế giới này, những điều không bình thường thường dẫn đến những rắc rối không bình thường.

Quách Tĩnh không nhận ra. 

Hắn là người đơn giản, thấy hòa là hòa, thấy vui là vui.

Nhưng có một người nhận ra.

Trên lầu gác nhìn xuống võ trường, Hoàng Dung đứng tựa lan can, tay khẽ đặt lên bụng đã nặng nề. 

Nàng xem hết trận đấu, từ chiêu đầu đến chiêu cuối. 

Rồi nàng lặng lẽ quay vào trong.

Hoàng Dung là người tinh minh. 

Nàng thấy rõ, ở chiêu cuối cùng, khi hai chưởng chạm nhau, nội lực của tôi đã chủ động thu lại ba phần. 

Nàng thấy rõ, sắc mặt tôi sau trận đấu không đỏ, hơi thở không gấp, như thể vừa đi dạo một vòng. 

Và nàng thấy rõ, chỉ mười ngày trước, sau trận đấu ở Lục Gia Trang, tôi đã thở dốc, mồ hôi ướt đẫm.

Nàng không nói ra. 

Chỉ lặng lẽ theo dõi.

Đêm ấy, khi Quách Tĩnh đã ngủ say, Hoàng Dung ngồi một mình bên ngọn đèn dầu trong thư phòng. 

Trước mặt nàng là một tờ giấy trắng, trên đó nàng đã vẽ lại từng chiêu thức tôi dùng trong mấy trận đấu: 

chiếc đũa tre phá chày vàng, tơ chân khí của kim luân bị cắt đứt, những đường kiếm luồn lách trong Loạn Thạch Trận.

Rồi nàng nhớ lại một chuyện từ rất lâu.

Thuở nhỏ, trên Đào Hoa Đảo, cha nàng Hoàng Dược Sư có một kho sách cổ, cất giữ những bí điển mà ông thu thập từ khắp thiên hạ. 

Có lần, cô bé Hoàng Dung nghịch ngợm lẻn vào, lục lọi được một cuốn sách da đã mục nát, không rõ tác giả, ghi chép những truyền thuyết kỳ lạ của nhiều trăm năm về trước.

Trong đó có một đoạn kể về một nhân vật lợi hại như Thần Linh, sống cách đây mấy trăm năm. 

Không ai biết người ấy từ đâu đến, cũng chẳng ai biết người ấy đi về đâu. 

Cuốn sách miêu tả rằng, người đó lúc ban đầu, nội lực không hơn người thường là bao, nhưng sử dụng nội lực bản thân cực kỳ tinh diệu. 

Một phần sức lực mà phát huy được mười phần uy lực. 

Nhìn thấu mọi chiêu thức như nhìn lòng bàn tay. 

Có thể lấy yếu thắng mạnh.

Rồi đến một ngày, người ấy bỗng nhiên mạnh lên, mạnh đến mức không thể tưởng tượng. 

Có kẻ nói người ấy một chưởng có thể xẻ núi. 

Có kẻ nói người ấy có thể bay lên tận trời cao mà không cần cánh.

Lúc ấy Hoàng Dung chỉ coi đó là chuyện hoang đường, đọc xong rồi quên.

Nhưng giờ đây, ngồi trước tờ giấy vẽ đầy những chiêu thức của tôi, không hiểu sao, nàng lại nghĩ tới nhân vật truyền kỳ ấy.

Ngọn đèn dầu khẽ lay động. 

Bên ngoài, gió đêm thổi qua thành Tương Dương.

Hoàng Dung nhìn ra cửa sổ, về phía gian phòng nhỏ cạnh võ trường, nơi ánh đèn vẫn còn sáng.

Doãn Chí Bình… rốt cuộc ngươi là ai?

Doan dai hiep C11

 Chương 11: Loạn Thạch Trận Và Bản Năng Không Lời.


Sự im lặng kéo dài tưởng chừng như vô tận.

Hàng vạn người đứng trong trang viện, mà nghe được cả tiếng kim rơi. 

Một chiếc lá hòe xoay xoay trong gió, chậm rãi rơi xuống giữa Kim Luân Pháp Vương và hai chúng tôi. 

Không ai dám thở mạnh.

Rồi lão tăng khẽ chắp tay.

Hôm nay bần tăng được mở rộng tầm mắt. Võ lâm Trung Nguyên quả nhiên ngọa hổ tàng long. 

Giọng lão vẫn trầm và chậm, như chưa từng có chuyện gì xảy ra. 

Chức minh chủ này, xin hẹn ngày khác.

Lão phất tay áo. 

Chiếc kim luân cắm trên tường như có linh tính, tự rút ra, bay về nằm gọn trong tay lão. 

Lão quay lưng, chậm rãi bước ra cổng trang viện. 

Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba cùng đám thủ hạ lặng lẽ theo sau. 

Quần hùng tự động dạt sang hai bên, nhường một con đường.

Chỉ đến khi bóng áo cà sa đỏ khuất hẳn sau những tán hòe, cả trang viện mới vỡ òa trong tiếng hò reo.

Người ta vây lấy Quách Tĩnh, vây lấy tôi. 

Có người tung mũ lên trời, có người ôm nhau khóc, có người quỳ xuống vái lạy. 

Tiếng Doãn đạo trưởng vang lên khắp nơi. 

Lỗ Hữu Cước được dìu tới, nắm chặt tay tôi mà không nói nên lời.

Nhưng tôi không cười nổi.

Bởi vì tôi biết, Kim Luân Pháp Vương rút lui không phải vì đã từ bỏ. 

Ánh mắt lão lúc quay đi, tôi nhìn thấy rõ. 

Đó không phải ánh mắt của kẻ thua cuộc. 

Đó là ánh mắt của một người đánh cờ vừa nhận ra nước đi này không thành, và đang tính nước đi tiếp theo.

Trong nguyên tác, ngay sau Anh Hùng Đại Hội, Kim Luân Pháp Vương bắt được Quách Phù. 

Đến tận bây giờ tôi cũng không rõ lão làm cách nào. 

Rồi Hoàng Dung đi tìm con gái, cũng lọt vào mai phục của lão, suýt chút nữa cả hai mẹ con đều bị bắt. 

Nếu không phải Dương Quá và Tiểu Long Nữ kịp thời xuất hiện, e rằng thành Tương Dương đã sớm không còn.

Nắm giữ được Hoàng Dung và Quách Phù trong tay, Kim Luân Pháp Vương có thể dễ dàng điều khiển Quách Tĩnh. 

Khi ấy, chiếm Tương Dương có khó gì.

Đêm ấy, đại hội tan, Dương Quá và Tiểu Long Nữ chuẩn bị rời đi.

Tôi đứng từ xa nhìn hai người họ dắt tay nhau ra khỏi cổng trang viện. 

Có một khoảnh khắc, Tiểu Long Nữ quay đầu lại, ánh mắt lướt qua đám đông, dừng trên người tôi đúng một hơi thở, rồi quay đi.

Tôi rất muốn đi theo. 

Nhưng tôi quyết định ở lại.

Lý trí nói với tôi rằng, nếu Kim Luân Pháp Vương ra tay, mục tiêu của lão là gia đình Quách Tĩnh. 

Ở lại bên cạnh họ, tôi có thể ngăn được bi kịch.

Nhưng cuối cùng, tôi vẫn không ngăn được dòng chảy của lịch sử.

Ba ngày sau, trên đường về Tương Dương, đoàn người dừng chân ở một thị trấn nhỏ.

Quách Phù là một thiếu nữ rất xinh đẹp, khiến lòng tôi cũng xốn xang. 

Nhưng nàng cũng tính ham chơi, bị gò bó suốt mấy ngày đại hội, liền cùng hai huynh đệ họ Võ tranh thủ lúc mọi người không để ý, rủ nhau lẻn ra ngoài. 

Đến khi hai anh em kia hớt hải chạy về, mặt mũi trắng bệch, khóc hu hu báo rằng Quách Phù đã mất tích trong rừng phía tây, mọi người mới giật mình.

Hoàng Dung nghe tin, sắc mặt tái hẳn đi. 

Nhưng nàng không hoảng loạn. 

Chỉ trong mấy hơi thở, nàng đã phân chia người đi tìm theo các hướng. 

Quách Tĩnh dẫn đệ tử Cái Bang đi về phía bắc. 

Nàng tự mình đi về phía tây.

Quách phu nhân, để bần đạo theo người. 

Tôi bước lên.

Hoàng Dung nhìn tôi một thoáng, rồi gật đầu. 

Nàng thông minh tuyệt đỉnh, không cần tôi nói ra cũng hiểu được nỗi lo của tôi.

Chúng tôi đi về phía tây chừng hai mươi dặm, đến một khu rừng thưa. 

Giữa rừng có một khoảng đất trống rộng, xung quanh rải rác những tảng đá lớn nhỏ nằm ngổn ngang. 

Gió chiều thổi qua những ngọn cây, mang theo một thứ mùi rất khẽ. 

Mùi đàn hương. 

Thứ hương mà các lạt ma Tây Tạng vẫn đốt khi tụng kinh.

Tôi đưa tay chặn trước Hoàng Dung. 

Nàng cũng đã dừng lại.

Ra đi. 

Nàng cất giọng bình thản. 

Kim Luân Pháp Vương, đã đến rồi thì cần gì phải trốn tránh?

Tiếng cười trầm đục vang lên. 

Từ sau những gốc cây, từng bóng người bước ra. 

Kim Luân Pháp Vương, Hoắc Đô, Đạt Nhĩ Ba. 

Và bị Đạt Nhĩ Ba túm chặt cánh tay, miệng bị bịt lại, nước mắt giàn giụa, là Quách Phù.

Quách phu nhân quả nhiên thông minh. 

Kim Luân Pháp Vương chắp tay. 

Bần tăng chờ người đã lâu. 

Nhưng không ngờ, Doãn đạo trưởng cũng có nhã hứng đi cùng.

Hoắc Đô cười khẩy, gương mặt vẫn còn hằn vết bầm tím từ trận đấu ở Lục Gia Trang: 

Sư phụ, lần này hắn không có Quách Tĩnh bên cạnh nữa.

Tôi nắm chặt thanh trường kiếm bên hông, thanh kiếm tôi xin được từ một đệ tử Toàn Chân ở đại hội. 

Tim đập mạnh. 

Không có Quách Tĩnh, chỉ có tôi đối đầu với Kim Luân Pháp Vương, lại thêm Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba. 

Hoàng Dung đang mang thai, không thể động thủ.

Nhưng tôi cũng có lý do để không sợ hãi. 

Chính là Tiểu Long Nữ và Dương Quá

Kim Luân Pháp Vương không cho tôi thời gian suy nghĩ. 

Chiếc kim luân vàng rời tay, xoay tít lao tới.

Tôi rút kiếm, nghênh chiến.

Lần này tôi không còn đũa tre, mà là trường kiếm trong tay. 

Toàn Chân kiếm pháp từ mũi kiếm tuôn ra như nước chảy, mỗi đường kiếm vạch ra một luồng chân khí trắng bạc như sương sớm. 

Nhưng Kim Luân Pháp Vương đã có kinh nghiệm. 

Lão không còn để kim luân đổi hướng lộ liễu, mà điều khiển nó xoay vòng quanh tôi, liên tục, không ngừng nghỉ, không cho tôi một khe hở nào để thi triển Phá Khí Thức. 

Cùng lúc, lão tự mình áp sát, chưởng lực vàng rực đánh ra liên hoàn.

Mười chiêu. 

Hai mươi chiêu. 

Tôi bị dồn từng bước về phía sau, đạo bào rách thêm mấy chỗ, cánh tay trái rướm máu.

Thì một tiếng chuông vàng vang lên.

Keng!

Một quả cầu kim loại nhỏ buộc vào dải lụa trắng từ trong bóng cây vụt ra, đánh bật chiếc kim luân lệch đi ba thước. 

Rồi một bóng áo trắng lướt xuống, nhẹ như mây trôi, đứng cạnh tôi.

Tiểu Long Nữ.

Phía sau nàng, Dương Quá đã lao tới, một chưởng đánh thẳng vào Đạt Nhĩ Ba, giải cứu Quách Phù khỏi tay gã.

Họ đã đến. 

Đúng như trong nguyên tác.

Bốn người chúng tôi liên thủ.

Dương Quá đối đầu Hoắc Đô và Đạt Nhĩ Ba, vừa đánh vừa che chở cho Quách Phù và Hoàng Dung. 

Tôi và Tiểu Long Nữ cùng đối đầu Kim Luân Pháp Vương.

Nhưng ngay cả như vậy, chúng tôi vẫn không phải đối thủ của lão.

Kim Luân Pháp Vương đã thật sự nổi giận. 

Lão không còn giữ lại gì. 

Lão rút ra thêm bốn chiếc luân nữa: ngân luân, đồng luân, thiết luân, duyên luân. 

Năm chiếc pháp luân cùng bay lên trời, xoay tít, phát ra năm âm thanh khác nhau, cao thấp đan xen như một khúc nhạc tử thần. 

Năm luồng ánh sáng vàng, bạc, đồng, đen, xám đan thành một tấm lưới khổng lồ, bủa vây cả khoảng rừng.

Long Tượng Bát Nhã Công vận đến cực hạn. 

Cả thân thể lão tỏa ra một luồng hào quang vàng chói mắt, mờ ảo hiện lên bóng dáng của mười con rồng, mười con voi quấn quanh người.

Một chiếc thiết luân đánh trúng vai Dương Quá, hắn văng ra xa, ngã đập vào gốc cây. 

Kim linh tác của Tiểu Long Nữ bị đồng luân cuốn lấy, kéo nàng loạng choạng. 

Tôi lao tới đỡ cho nàng một chưởng của lão, chân khí trong người như bị đánh tan, máu trào lên cổ họng.

Chúng tôi thua. 

Thua một cách rõ ràng.

Lùi lại! Vào đây!

Tiếng Hoàng Dung vang lên.

Không ai để ý từ lúc nào, nàng đã lặng lẽ di chuyển khắp khoảng đất trống, dùng gậy trúc đẩy, dùng chân hất, xếp lại những tảng đá ngổn ngang. 

Mỗi tảng đá được đặt ở một vị trí tưởng như ngẫu nhiên. 

Nhưng khi tôi nhìn lại, bộ não một trăm phần trăm lập tức nhận ra cả một hệ thống phức tạp ẩn bên trong. 

Bát Quái, Cửu Cung, Ngũ Hành tương sinh tương khắc.

Hoàng Dung thông thạo kỳ môn độn giáp, chân truyền của Đông Tà Hoàng Dược Sư. 

Nàng đã bày ra Loạn Thạch Trận.

Chúng tôi lao vào trong trận. 

Kim Luân Pháp Vương đuổi theo, nhưng vừa bước vào đã khựng lại. 

Trước mắt lão, những tảng đá như dịch chuyển, con đường thẳng bỗng hóa quanh co, lối ra hóa thành ngõ cụt. 

Lão xoay người, những tảng đá lại đổi chỗ. 

Năm chiếc pháp luân bay vào trận, đập vào đá, bật ra, lạc hướng.

Tạm thời cầm chân được Kim Luân Pháp Vương.

Nhưng tôi biết, chỉ là tạm thời. 

Với nội lực của lão, sớm muộn gì cũng sẽ phá được trận.

Vậy thì phải khiến lão không có thời gian mà phá.

Tôi lao vào trận. 

Với bộ não một trăm phần trăm, chỉ cần nhìn một lần, tôi đã thấy rõ toàn bộ quy luật vận hành của Loạn Thạch Trận. 

Trong mắt tôi, những tảng đá không còn dịch chuyển, mà là những bức tường cố định của một mê cung đã được vẽ sẵn bản đồ.

Tôi như con thoi luồn lách trong trận loạn thạch. 

Từ sau tảng đá này lướt ra, một đường kiếm hiểm hóc nhắm vào sau gáy lão. 

Lão quay lại, tôi đã biến mất sau tảng đá khác. 

Từ khe hở giữa hai tảng đá, một đường kiếm khác đâm vào mạn sườn. 

Lão vung chưởng, tảng đá vỡ vụn, nhưng tôi đã ở phía bên kia. 

Lúc trên đầu, lúc dưới chân, lúc trái lúc phải, không bao giờ đánh trực diện, không bao giờ ở yên một chỗ quá một hơi thở.

Kim Luân Pháp Vương bị quấy rối đến bực mình. 

Gương mặt bình thản của lão dần dần đỏ lên, hơi thở bắt đầu nặng nề.

Rồi lão gầm lên một tiếng.

Lão không còn tìm đường nữa. 

Lão dồn toàn bộ nội lực thâm hậu, hai tay đẩy ra bốn phía. 

Một vòng hào quang vàng bùng nổ từ người lão, như mặt trời vỡ tung. 

Những tảng đá xung quanh lão bị đánh tung lên không, vỡ thành trăm mảnh, rơi xuống như mưa. 

Loạn Thạch Trận của Hoàng Dung, trong một khoảnh khắc, bị phá hỏng hoàn toàn.

Nhưng tôi đang chờ chính khoảnh khắc ấy.

Mọi chiêu thức, dù mạnh đến đâu, cũng có lúc lực cũ đã hết mà lực mới chưa sinh. 

Với một cao thủ như Kim Luân Pháp Vương, khoảnh khắc ấy ngắn đến mức gần như không tồn tại. 

Chỉ trong một cái chớp mắt.

Nhưng với tôi, một cái chớp mắt là đủ.

Tôi lao vào giữa cơn mưa đá vụn, trường kiếm đâm thẳng vào mặt lão. 

Không phải để giết, mà để thu hút sự chú ý của lão.

Và ngay khoảnh khắc ấy, tôi biết Tiểu Long Nữ sẽ ở đâu.

Tôi không nhìn nàng. 

Tôi không ra hiệu. 

Không có một lời nào được nói ra. 

Nhưng tôi biết. 

Như thể có một sợi tơ vô hình nối giữa chúng tôi.

Kiếm của tôi là Toàn Chân kiếm pháp, chiêu Định Dương Châm, đâm thẳng, cương mãnh. 

Kim Luân Pháp Vương nghiêng đầu né, tay vung lên đỡ.

Đúng lúc ấy, từ góc mà lão vừa để lộ ra khi nghiêng đầu, một tia vàng lóe lên.

Kim linh tác của Tiểu Long Nữ. 

Quả cầu kim loại buộc trên dải lụa trắng, mang theo toàn bộ nội lực của nàng, lao tới như một vì sao băng. 

Nội lực của Tiểu Long Nữ rất cao, không kém Quách Tĩnh bao nhiêu. 

Đòn đánh của nàng cực mạnh.

BỐP!

Quả cầu đánh thẳng vào giữa ngực Kim Luân Pháp Vương.

Lão lão đảo lùi lại mấy bước, mặt trắng bệch, một ngụm máu tươi phun ra, nhuộm đỏ áo cà sa.

Trọng thương.

Tôi đứng thở dốc giữa đống đá vụn, quay sang nhìn Tiểu Long Nữ.

Nàng cũng đang nhìn tôi.

Đôi mắt trong như nước hồ thu ấy, lần đầu tiên, có một gợn sóng. 

Ngạc nhiên. 

Bối rối. 

Và một thứ gì đó mà ngay cả chính nàng cũng không gọi được tên.

Tôi biết vì sao.

Ngọc Nữ Tâm Kinh và Ngọc Nữ Kiếm Pháp của Cổ Mộ phái, năm xưa Lâm Triều Anh sáng tạo ra, mỗi chiêu mỗi thức đều nhằm khắc chế Toàn Chân kiếm pháp của Vương Trùng Dương. 

Nhưng nàng ấy cũng để lại một bí mật: 

khi một người dùng Toàn Chân kiếm pháp, một người dùng Ngọc Nữ kiếm pháp, hai bên phối hợp với nhau, thì không còn là khắc chế, mà là hòa hợp. 

Một cương một nhu, một công một thủ, bổ khuyết cho nhau hoàn hảo. 

Đó chính là Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp, Song Kiếm Hợp Bích. 

Thứ kiếm pháp mà Lâm Triều Anh đã tạo ra cho chính bà và người bà yêu, nhưng cả đời chưa từng được dùng.

Kiếm của tôi là Toàn Chân. 

Võ công của nàng là Cổ Mộ. 

Võ học của hai chúng tôi, từ trong cội rễ, đã sinh ra để hòa vào nhau.

Nhưng đó chỉ là một nửa lời giải thích. 

Song Kiếm Hợp Bích đòi hỏi hai trái tim tương thông. 

Mà giữa tôi và nàng, chưa từng có điều ấy. 

Vậy cái ăn ý vừa rồi đến từ đâu? 

Như thể trong vô minh, có một bản năng nào đó trong nàng đã nhận ra tôi, đã biết trước tôi sẽ ở đâu, sẽ làm gì, mà chính nàng cũng không hiểu vì sao.

Có lẽ một phần, do những lần ân ái trong vô thức, thân thể của nang theo bản năng đã chấp nhận khí tức của tôi.

Tiểu Long Nữ không ngờ bản thân lại có thể phối hợp với tôi ăn ý đến như vậy. 

Nàng khẽ cau mày, cúi xuống nhìn quả cầu vàng trong tay, như đang tự hỏi chính mình.

Ở cách đó mấy trượng, Dương Quá vừa gượng dậy sau cú đánh của thiết luân, tay ôm vai, đứng lặng nhìn hai chúng tôi. 

Gương mặt tuấn tú của cậu thiếu niên ấy cứng lại. 

Trong lòng cậu, có thứ gì đó chua chua, như vừa uống phải một ngụm giấm.

Doan dai hiep C10

 Chương 10: Rồng Đấu Voi.


Kim Luân Pháp Vương mở mắt.

Chỉ là một cái mở mắt, nhưng cả trang viện bỗng nhiên như lạnh đi. 

Đôi mắt ấy sâu hoắm dưới hàng lông mày bạc, không giận dữ, không kinh ngạc, chỉ lặng lẽ nhìn tôi, như một người thợ săn già đang nhìn một con thú lạ lần đầu xuất hiện trong khu rừng quen thuộc của mình.

Hoắc Đô được người dìu tới bên cạnh, ghé tai sư phụ thì thầm mấy câu. 

Đạt Nhĩ Ba nhặt lại cây chày vàng, lặng lẽ lui về phía sau, cúi đầu không dám nhìn ai.

Kim Luân Pháp Vương khẽ gật đầu, rồi chậm rãi đứng dậy. 

Thân hình lão gầy gò, cao lêu nghêu, chiếc áo cà sa đỏ thẫm phủ trên người như treo trên một cây sào. 

Nhưng khi lão đứng lên, không khí trong trang viện như đặc quánh lại.

Đạo trưởng võ công cao cường, bần tăng bội phục. 

Giọng lão trầm và chậm, tiếng Hán lơ lớ nhưng rõ ràng từng chữ. 

Nhưng bần tăng có mấy lời muốn nói cùng chư vị anh hùng. 

Võ lâm Trung Nguyên chia năm xẻ bảy, môn phái tranh chấp, đã bao nhiêu năm nay không ai thống lĩnh. 

Đại Hãn Mông Cổ có lòng muốn bình định thiên hạ, cho bá tánh an cư. 

Nếu chư vị chịu theo bần tăng, ắt sẽ được......

Phì!

Một đệ tử Cái Bang nhổ toẹt xuống đất.

Rồi một người nữa, rồi mười người, trăm người. 

Tiếng chửi rủa nổi lên như ong vỡ tổ.

Giặc Mông Cổ giết dân ta như ngóe, mà dám nói bình định thiên hạ!

Cút về thảo nguyên mà làm minh chủ đám dê của ngươi!

Kim Luân Pháp Vương im lặng nghe một lúc. 

Rồi lão khẽ thở dài.

Lão muốn dùng lý lẽ để nói chuyện võ lâm. 

Nhưng kết quả chẳng ra gì.

Tôi nhìn lão, và hiểu điều gì sắp xảy ra. 

Trong võ lâm, không gì quan trọng hơn thực lực. 

Chỉ cần có thực lực, dù là kẻ đại gian đại ác, lên làm minh chủ cũng sẽ chẳng ai phản đối, và cũng chẳng ai dám phản đối. 

Lời nói không khuất phục được lòng người, thì nắm đấm sẽ làm việc đó.

Lão muốn dùng sức mạnh để lập uy.

Kim Luân Pháp Vương đưa tay vào trong vạt áo cà sa, rút ra một vật. 

Một chiếc bánh xe bằng vàng ròng, đường kính hơn một thước, vành ngoài sắc như dao, trên khắc kinh văn Phạn ngữ. 

Kim Luân, pháp luân thành danh của lão.

Vậy thì, để bần tăng lãnh giáo cao chiêu của đạo trưởng.

Lão không bước tới. 

Lão chỉ khẽ vung tay.

Chiếc kim luân rời khỏi tay lão, xoay tít, phát ra những tiếng vù vù trầm đục như tiếng ong khổng lồ. 

Nó không bay thẳng, mà vẽ một đường cong rộng trên không, lượn quanh sân một vòng, rồi bất ngờ đổi hướng, lao vụt về phía tôi.

Tôi vận Vô Danh Công đến cực hạn. 

Thế giới chậm lại.

Và lần đầu tiên, tôi thấy được bí mật của chiếc kim luân.

Từ bàn tay Kim Luân Pháp Vương, một sợi chân khí mảnh như tơ tằm, mảnh đến mức gần như vô hình, kéo dài ra, nối liền với tâm chiếc kim luân. 

Không phải một sợi, mà là hàng chục sợi, đan vào nhau như một mạng nhện tinh vi. 

Lão hóa nội lực thành tơ mỏng như tơ tằm, điều khiển chiếc pháp luân linh hoạt như chính cánh tay của mình. 

Mỗi khi ngón tay lão khẽ động, chiếc luân lại đổi hướng, tăng tốc, nghiêng vành, như một con chim săn mồi có linh tính.

Thảo nào thứ vũ khí này có thể đè bẹp bao nhiêu loại binh khí khác trong nguyên tác. 

Năng lực khống chế chân khí của Kim Luân Pháp Vương quả thật siêu việt thường nhân. 

Có lẽ chỉ có những người như Chu Bá Thông, như Nam Đế Nhất Đăng đương thời mới có thể so sánh. 

Ngay cả Quách Tĩnh cũng phải kém một bậc.

Chiếc kim luân đã đến trước mặt.

Nhanh. 

Ngay cả trong thế giới chậm rãi của tôi, nó vẫn nhanh như một tia chớp vàng. 

Vành luân sắc lẹm cắt ngang không khí, nhắm thẳng vào cổ họng tôi.

Tôi ngả người ra sau, gần như nằm song song với mặt đất. 

Vành luân sượt qua trên mặt, gió từ nó cắt đứt mấy sợi tóc mai, để lại trên má một vệt rát bỏng. 

Chưa kịp đứng thẳng lại, chiếc luân đã quay đầu giữa không trung, từ phía sau lưng bổ xuống.

Tôi xoay người trên một chân, vạt đạo bào bị vành luân cắt đứt một mảng lớn, bay lả tả trong gió.

Lần thứ ba, chiếc luân hạ thấp, quét ngang ngang gối.

Tôi tung người lên, chiếc luân lướt qua dưới chân. 

Đúng khoảnh khắc ấy, khi tôi đang lơ lửng giữa không trung, khi chiếc luân vừa đổi hướng, tôi nhìn thấy nó.

Điểm yếu của chiếc kim luân, chính là điểm kết nối giữa pháp luân và sợi tơ chân khí. 

Ở tâm luân, nơi những sợi tơ hội tụ lại, có một khe hở cực nhỏ, chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc chiếc luân đổi hướng, khi các sợi tơ phải xoay theo. 

Chỉ cần phá vỡ kết nối này, chiếc luân sẽ không còn người điều khiển.

Phá Khí Thức.

Chiếc đũa tre trong tay tôi điểm ra. 

Nhẹ như chuồn chuồn đạp nước, chính xác như mũi kim thêu. 

Đầu đũa xuyên qua khe hở giữa những sợi tơ, chạm vào đúng tâm luân, rồi khẽ xoay một vòng.

Phựt.

Một âm thanh rất khẽ, như tiếng dây đàn đứt. 

Những sợi tơ chân khí vô hình tan biến.

Chiếc kim luân đang xoay tít bỗng chao đảo, như một con diều mất gió. 

Nó mất đà, bay lệch hẳn đi, lao thẳng vào bức tường gạch cuối sân. 

Ầm một tiếng, cả nửa vành luân cắm ngập vào tường, gạch đá vỡ vụn, bụi bay mù mịt.

Cả trang viện câm lặng.

Kim Luân Pháp Vương sững người.

Lần đầu tiên, gương mặt bình thản như tượng đá ấy để lộ sự kinh ngạc. 

Lão nhìn bàn tay mình, rồi nhìn chiếc kim luân cắm trên tường, rồi nhìn tôi. 

Lão ở thảo nguyên khổ luyện mấy chục năm, thành tài rồi mới tiến vào Trung Nguyên, chưa từng gặp đối thủ. 

Chiếc kim luân này theo lão mấy chục năm, như một phần thân thể. 

Không ngờ hôm nay, lần đầu tiên, có kẻ cắt đứt cảm giác của lão với pháp luân.

Mà lại bằng một chiếc đũa tre.

Sự kinh ngạc ấy chỉ kéo dài một hơi thở.

Rồi gương mặt Kim Luân Pháp Vương lập tức trở nên nghiêm nghị. 

Không còn là ánh mắt của thợ săn nhìn con thú lạ. 

Mà là ánh mắt của một cao thủ tuyệt đỉnh nhìn một đối thủ thật sự.

Lão không thu hồi kim luân. 

Lão bước tới một bước.

Chỉ một bước, mà mặt đất dưới chân lão lún xuống ba tấc. 

Hai bàn tay lão chắp trước ngực, rồi chậm rãi tách ra. 

Giữa hai lòng bàn tay, một luồng hào quang vàng chói mắt bừng lên, rực rỡ như mặt trời giữa trưa. 

Luồng hào quang ấy dần dần ngưng tụ, cuộn xoáy, rồi hiện thành hình một con voi khổng lồ, vòi giương cao, ngà cong vút, gầm lên một tiếng như sấm rền.

Long Tượng Bàn Nhược Công. 

Tầng thứ mười. 

Mỗi tầng tăng thêm sức mạnh của một con rồng, một con voi.

Lão đánh ra.

Con voi chân khí lao tới, mang theo kình phong cuồn cuộn như bão tố. 

Những người đứng ở rìa sân bị luồng gió quét qua, ngã lăn ra đất. 

Lá hòe trên cây rụng xuống như mưa.

Tôi biết mình đã gặp nguy hiểm thật sự.

Trong tay tôi lúc này chỉ có cây đũa tre. 

Phá Khí Thức dù xảo diệu đến đâu cũng vô dụng trước một luồng chân khí hùng hậu đến mức này. 

Dĩ xảo phá lực!

Dù tôi thấy rõ sơ hở thì thế nào, đứng trước thực lực tuyệt đối, kỹ xảo cũng không là gì.

Và tốc độ của lão, trong mắt tôi vẫn rất nhanh. 

Thậm chí còn nhanh hơn Quách Tĩnh khi tỷ võ với tôi một chút.

Né? 

Con voi phủ kín cả khoảng không trước mặt, hai bên đều là kình phong. 

Đỡ? 

Với chút nội lực của tôi, đỡ trực diện chỉ có tan xương nát thịt.

Bộ não một trăm phần trăm tính toán hàng trăm phương án trong chớp mắt. 

Không phương án nào có kết cục tốt.

Tôi siết chặt chiếc đũa, dồn toàn bộ nội lực còn lại vào tay phải, chuẩn bị liều mạng.

Đúng lúc ấy, một tiếng rồng ngâm vang dội từ phía sau.

Tiếng ngâm ấy trầm hùng, vang vọng, như từ đáy biển sâu vọng lên, như từ tầng mây cao giáng xuống. 

Cả trang viện rung chuyển.

Một bóng rồng khổng lồ lướt qua bên cạnh tôi. 

Vảy vàng lấp lánh, sừng dài cong vút, móng vuốt giương ra, thân hình uốn lượn dài hơn năm trượng, trực tiếp va chạm với con voi chân khí của Kim Luân Pháp Vương.

Quách Tĩnh.

Hắn vẫn luôn đề phòng, từ lúc Kim Luân Pháp Vương mở mắt, hắn đã đứng sẵn sau lưng tôi. 

Và khi lão ra tay, hắn cũng ra tay.

Kháng Long Hữu Hối. 

Chiêu mạnh nhất trong Hàng Long Thập Bát Chưởng.

Hàng Long Thập Bát Chưởng đấu với Long Tượng Bàn Nhược Công.

Rồng va chạm với voi.

ẦM!

Một tiếng nổ như trời long đất lở. 

Một vòng sóng chấn động khổng lồ bùng ra từ điểm va chạm, quét qua khắp trang viện. 

Mặt đất nứt toác. 

Những tán hòe gần nhất gãy răng rắc, cành lá bay tứ tung. 

Hàng trăm người có công lực thấp đứng gần đó bị chấn động đến tức ngực, có người hộc máu ngã quỵ, có người bị hất văng ra xa mấy trượng.

Tôi đứng gần nhất, cảm thấy như có một quả búa khổng lồ đập vào ngực, phải vận hết nội lực mới giữ được thăng bằng, cổ họng ngòn ngọt mùi máu.

Ở hàng đầu, Hoàng Dung vội vàng vận chân khí bảo vệ bào thai, sắc mặt tái nhợt. 

Nàng đang mang thai sắp sinh, cơn chấn động ấy, nếu không kịp phòng bị, đứa bé trong bụng khó lòng giữ được.

Quách Tĩnh và Kim Luân Pháp Vương không dừng lại.

Hai người lao vào nhau, liên tiếp đối bảy chưởng. 

Mỗi chưởng là một con rồng gầm thét đối đầu với một con voi giận dữ. 

Mỗi lần va chạm, một vòng sóng chấn động lại quét qua. 

Đại sảnh của Lục Gia Trang phía sau rung lên bần bật, ngói trên mái rơi lả tả, cột kèo kêu răng rắc, lung lay như muốn sụp đổ.

Chưởng thứ nhất. 

Chưởng thứ hai. 

Cả hai đều không lùi.

Chưởng thứ năm. 

Mặt đất dưới chân họ đã lún sâu đến mắt cá.

Chưởng thứ bảy.

Quách Tĩnh liếc mắt về phía Hoàng Dung. 

Thấy sắc mặt nàng trắng bệch, tay ôm chặt lấy bụng, hắn lo lắng cho vợ con, liền chủ động thu tay.

Hai luồng sức mạnh tách ra.

Quách Tĩnh lùi sáu bước. 

Kim Luân Pháp Vương lùi năm bước.

Thực lực không chênh lệch nhau nhiều. 

Nhưng Kim Luân Pháp Vương vẫn hơn một bậc.

Tôi lập tức bật người, đứng cạnh Quách Tĩnh.

Hai chúng tôi không cần nói lời nào. 

Hắn hơi chùng gối, hai tay đặt trước ngực theo tư thế Hàng Long. 

Tôi nghiêng người nửa bước, chiếc đũa tre trong tay đã được thay bằng 1 thanh kiếm mượn tạm của một vị đạo hữu nào đó ở gần, chĩa ra, chân đặt theo Thất Tinh Bộ. 

Một rồng một hạc, một cương một nhu, bày ra tư thế liên thủ bất cứ lúc nào.

Tình thế biến chuyển.

Nếu đơn đấu, dù là tôi hay Quách Tĩnh cũng sẽ khó lòng giành thắng lợi trước Kim Luân Pháp Vương. 

Nhưng một người có sức mạnh của rồng, một người có đôi mắt nhìn thấu mọi sơ hở, khi đứng cạnh nhau, lại là chuyện khác.

Kim Luân Pháp Vương đứng yên, nhìn hai chúng tôi. 

Hơi thở của lão hơi gấp. 

Chiếc áo cà sa trên vai rách một mảng. 

Ánh mắt lão chuyển từ tôi sang Quách Tĩnh, rồi lại từ Quách Tĩnh sang tôi.

Lão chùn lòng.

Rồi ánh mắt lão quét một vòng quanh trang viện. 

Hàng vạn người. 

Hàng vạn đôi mắt đang nhìn lão, hàng vạn bàn tay đang siết chặt binh khí. 

Các đệ tử Cái Bang đã vây kín bốn phía. 

Các chưởng môn, các đại hiệp vừa bị thương lúc nãy cũng đã gượng dậy, đứng thành hàng.

Tôi thấy rõ lão đang tính toán.

Lão dốc toàn lực, có thể hạ sát tôi và Quách Tĩnh. 

Có thể. 

Nhưng bản thân lão cũng sẽ trọng thương, thậm chí suy kiệt đến mức chẳng đứng vững. 

Lúc đó, giữa hàng vạn quần hùng Trung Nguyên đang căm thù đến tận xương tủy, muốn toàn mạng rời đi là chuyện không thể nào.

Gió thổi qua trang viện đổ nát. 

Lá hòe rơi lả tả giữa hai bên.

Không ai lên tiếng.

Doan dai hiep C9

 Chương 9: Chiếc Đũa Phá Chày Vàng.


Lời tôi vừa dứt, cả trang viện im lặng trong một khoảnh khắc.

Rồi như vỡ đê.

Hay! Đề cử hay lắm!

Mã chân nhân là chưởng giáo Toàn Chân, đức cao vọng trọng, làm minh chủ còn ai xứng hơn!

Toàn Chân giáo là danh môn chính phái do Vương Trùng Dương tổ sư sáng lập, năm xưa Hoa Sơn Luận Kiếm đệ nhất thiên hạ, ai dám nói không xứng?

Quần hùng võ lâm Trung Nguyên như người chết đuối vớ được cọc. 

Họ không cần biết Mã Ngọc có ở đây hay không, cũng không cần biết đạo sĩ trẻ trước mặt là ai. 

Chỉ cần có người đứng ra, có một tia hy vọng để không phải cúi đầu trước bọn Mông Cổ, họ sẵn sàng ủng hộ. 

Chẳng ai phản đối tôi một lời.

Chỉ trừ một người.

Nực cười! 

Hoắc Đô gập mạnh chiếc quạt, ánh mắt sắc như dao. 

Toàn Chân giáo là đạo môn, xưa nay tự xưng thanh tĩnh vô vi, không màng thế sự.

Giờ lại muốn tranh chức minh chủ? Vả lại, Mã Ngọc có ở đây đâu? 

Người vắng mặt mà cũng đòi tranh cử, vậy sao không đề cử luôn Vương Trùng Dương đã chết từ đời nào cho xong?

Đám người Mông Cổ phía sau cười rộ lên.

Tôi không giận. 

Tôi chỉ mỉm cười.

Vương tử nói rất đúng, Toàn Chân giáo hướng đạo, không màng thế sự. 

Tôi chậm rãi đáp. 

Nhưng chính vương tử vừa nói đó thôi, người ở Trung Nguyên thì là người trong võ lâm Trung Nguyên, đều có quyền tham gia. 

Người Mông Cổ từ thảo nguyên xa xôi đến còn có quyền, thì Toàn Chân giáo đứng trên đất Trung Nguyên hơn trăm năm, lẽ nào lại không? 

Đóng góp cho võ lâm, cho bá tánh, là chuyện thiên kinh địa nghĩa, đâu cần phải hỏi đạo môn hay tục gia.

Hoắc Đô khựng lại.

Còn chuyện Mã chân nhân vắng mặt, tôi tiếp lời, giọng vang khắp trang viện, thì cũng như Hồng lão bang chủ vắng mặt vậy. 

Vương tử đã đề nghị để đệ tử thay sư phụ ra trận, vậy theo đúng quy củ vương tử định ra, hàng đệ tử Toàn Chân là bần đạo đây, sẽ thay mặt Mã chân nhân ứng chiến. 

Vương tử, và cả vị đại sư kia, cứ việc lên.

Tôi dùng chính lý lẽ của gã để đáp lại gã. 

Gương mặt Hoắc Đô thoáng tái đi rồi đỏ lên. 

Quần hùng xung quanh có người bật cười thành tiếng, có người vỗ đùi khoái chí. 

Sau bao nhiêu nhục nhã, lần đầu tiên họ thấy tên vương tử Mông Cổ kia bị chặn họng.

Hoắc Đô nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi nhếch mép cười khinh bỉ.

Tôi biết gã đang nghĩ gì. 

Năm xưa gã từng dẫn người đến đại náo Toàn Chân giáo trên núi Chung Nam, đánh cho các đạo sĩ Toàn Chân tơi tả. 

May có Quách Tĩnh ở đó, mới gỡ lại được chút thể diện cho phái Toàn Chân. 

Trong lòng gã, đạo sĩ Toàn Chân chẳng đáng một đồng.

Được. 

Gã mở quạt ra, phe phẩy. 

Để bổn vương tử dạy cho tên đạo sĩ thối nhà ngươi biết thế nào là trời cao đất dày.

Hoắc Đô động thủ trước.

Chiếc quạt sắt trong tay gã xoay một vòng, nan quạt bung ra như những lưỡi dao nhỏ, lóe sáng dưới nắng. 

Gã lao tới, quạt chém ngang cổ họng tôi, đồng thời tay trái đánh ra một chưởng nhắm vào bụng. 

Một công một thủ, một hư một thực, đúng là có chút bản lĩnh.

Tôi vận Vô Danh Công. 

Thế giới chậm lại.

Gã cũng là cao thủ, nhưng nội lực không hơn tôi bao nhiêu, võ công lại kém xa Quách Tĩnh. 

Trong mắt tôi lúc này, chiêu thức của gã chậm rãi như một điệu múa cung đình, mỗi động tác đều để lộ ra điểm khởi đầu và điểm kết thúc.

Tôi có thể kết thúc trận đấu ngay trong chiêu đầu tiên.

Nhưng tôi không vội.

Tôi có một chút toan tính của riêng mình. 

Nếu đánh bại Hoắc Đô quá nhanh, quá dễ dàng, Kim Luân Pháp Vương sẽ nhận ra tôi không đơn giản. 

Lão sẽ chẳng nói đạo nghĩa gì, mà hướng thẳng về phía tôi ra tay. 

Khi ấy, tôi rất khó đấu lại lão. 

Trừ phi tôi và Quách Tĩnh liên thủ. 

Nhưng với võ lâm Trung Nguyên mà nói, phải đánh hội đồng mới thắng được đối thủ trong trận tranh giành ngôi minh chủ, thì thắng cũng như thua, mất hết mặt mũi.

Vậy nên tôi sẽ đánh từ từ.

Và nhân tiện, trả lại cho gã một chút những gì gã đã làm với các anh hùng hôm nay.

Tôi nghiêng đầu, chiếc quạt sượt qua sát cổ. 

Chưởng của gã đánh tới bụng, tôi xoay người nửa vòng, để chưởng lực trượt qua vạt áo. 

Rồi thuận theo đà xoay, tay áo tôi phất một cái, nhẹ như gió thổi.

Bốp!

Một tiếng giòn tan. 

Tay áo đạo bào đập trúng má Hoắc Đô, không mạnh, nhưng đủ để in lại một vệt đỏ.

Cả trang viện lặng đi một thoáng, rồi bùng lên tiếng cười.

Hoắc Đô sững người, đưa tay sờ má, ánh mắt chuyển từ kinh ngạc sang giận dữ. 

Gã gầm lên, lao tới lần nữa. 

Lần này gã không còn giữ lại gì. 

Chiếc quạt sắt múa thành một màn lưới bạc dày đặc, mỗi nan quạt như một lưỡi kiếm, cắt xé không khí rít lên những tiếng ghê tai. 

Xen giữa những đường quạt, từ các khe nan, những mũi kim độc nhỏ như lông trâu bắn ra liên tiếp, lấp lánh màu xanh lục.

Tôi lách người giữa màn lưới ấy như một con cá luồn giữa rong rêu. 

Bước sang trái, mũi kim sượt qua tai. 

Cúi người, nan quạt lướt qua đỉnh đầu. 

Xoay gót, hai mũi kim cắm vào thân cây hòe phía sau. 

Tôi chưa từng lùi một bước nào ra khỏi vòng tròn ba thước dưới chân.

Thỉnh thoảng, tôi lại ra tay.

Một ngón tay điểm vào khuỷu tay gã, khiến cánh tay cầm quạt tê dại trong chốc lát. 

Một cái vỗ nhẹ lên vai, đẩy gã loạng choạng mất trọng tâm. 

Một cú gạt chân, khiến gã suýt ngã sấp mặt, phải chống quạt xuống đất mới đứng vững. 

Lần nào cũng nhẹ nhàng, lần nào cũng đúng chỗ, như mèo vờn chuột.

Mỗi lần như vậy, quần hùng lại hò reo.

Đánh hay lắm!

Đạo trưởng, đánh cho nó một trận thay Lỗ bang chủ!

Năm mươi chiêu. 

Bảy mươi chiêu. 

Hoắc Đô thở hồng hộc, mồ hôi chảy ròng ròng trên gương mặt đẹp đẽ, mái tóc rối bời, áo gấm bị rách mấy chỗ. 

Vẻ kiêu ngạo ban nãy đã biến mất không còn dấu vết, thay vào đó là sự hoảng loạn ngày càng hiện rõ. 

Gã đánh mãi, đánh mãi, mà ngay cả vạt áo của tôi cũng không chạm được.

Còn tôi, hơi thở vẫn đều đặn.

Đến chiêu thứ chín mươi, gã liều mạng. 

Gã vứt bỏ mọi phòng thủ, dồn toàn bộ nội lực vào chiếc quạt, đâm thẳng vào ngực tôi, đồng thời từ cán quạt bắn ra một chùm kim độc dày đặc như mưa. 

Một đòn đồng quy ư tận.

Đủ rồi.

Tôi bước lên nửa bước, tay phải đánh ra một chưởng. 

Không phải chiêu thức gì cao siêu, mà là Toàn Chân chưởng pháp cơ bản nhất, chiêu Hồng Vân Xuất Tụ, chiêu đầu tiên mà mọi đệ tử Toàn Chân đều phải học khi nhập môn.

Chưởng lực rời tay, ngưng tụ thành một đám mây đỏ nhạt mờ ảo, cuộn tròn như làn khói từ trong tay áo bay ra. 

Chùm kim độc vừa chạm vào đám mây ấy đã bị cuốn lại, xoay tròn, rồi rơi lả tả xuống đất như mưa. 

Chiếc quạt sắt đâm vào giữa đám mây, như đâm vào bông, khựng lại giữa không trung.

Rồi đám mây ấy nhẹ nhàng ép tới.

Hoắc Đô bay ngược ra sau, như một con diều đứt dây, rơi xuống cách đó ba trượng, lăn mấy vòng trên đất. 

Chiếc quạt sắt văng khỏi tay, gãy mất ba nan.

Gã cố gượng dậy, nhưng chân run lẩy bẩy, một ngụm máu trào ra khóe miệng. 

Gã nhìn tôi với ánh mắt như nhìn thấy quỷ.

Một trăm chiêu. 

Một chiêu Toàn Chân chưởng pháp nhập môn.

Cả trang viện bùng nổ.

Tiếng hò reo vang trời, cuồn cuộn như sóng biển. 

Các đệ tử Cái Bang nhảy cẫng lên, có người ôm nhau khóc. 

Lão anh hùng râu tóc bạc phơ mà tôi đứng cạnh ban nãy giơ cao hai tay, run run kêu lớn: 

Trời có mắt! Trời có mắt! 

Lỗ Hữu Cước được người dìu ngồi bên rìa sân, nhìn Hoắc Đô nằm dưới đất, vỗ mạnh vào cái chân lành, cười to như một đứa trẻ.

Ở hàng đầu, Quách Tĩnh nhìn tôi, ánh mắt sáng rực, gật đầu thật mạnh. 

Bên cạnh hắn, Hoàng Dung khẽ nheo mắt, như đang tính toán điều gì.

Còn ở góc xa dưới gốc hòe, tôi liếc thấy hai bóng người đã quay mặt nhìn về phía sân. 

Dương Quá nhíu mày. 

Còn Tiểu Long Nữ, đôi mắt trong như nước hồ thu ấy, đang lặng lẽ nhìn tôi.

Để ta.

Một giọng nói trầm đục như tiếng chuông đồng vang lên. 

Mặt đất khẽ rung.

Đạt Nhĩ Ba bước ra.

Gã lạt ma to lớn như quả núi, cao hơn tôi gần hai cái đầu, hai cánh tay to như cột nhà, bắp thịt cuồn cuộn dưới lớp áo cà sa đỏ. 

Trong tay gã, cây chày vàng dài hơn sáu thước, nặng mấy chục cân, gã cầm nhẹ như cầm một cành củi. 

Mỗi bước gã đi, đất dưới chân lại lún xuống một vệt.

Gã không nói thêm lời nào. 

Cây chày vàng giơ cao, rồi bổ xuống.

Ầm!

Tôi lách sang bên. 

Cây chày đập xuống nơi tôi vừa đứng, đất đá văng tung tóe, một hố sâu gần một thước hiện ra. 

Luồng kình phong từ cây chày quét qua, thổi tung vạt áo tôi phần phật, khiến những người đứng gần phải lùi lại.

Thần lực bẩm sinh. 

Sức lực vô cùng lớn.

Nhưng tôi đã nhìn thấy.

Sức lớn thì quán tính lớn. 

Mỗi lần cây chày bổ xuống, gã phải mất một nhịp để nâng nó lên. 

Mỗi lần quét ngang, thân thể khổng lồ của gã phải xoay theo, để lộ cả một mạn sườn. 

Lực càng lớn, sơ hở càng nhiều.

Tôi không học Độc Cô Cửu Kiếm. 

Nhưng nguyên ý của nó, những gì Độc Cô Cầu Bại ngộ ra từ tảng đá khắc Vô Danh Công, tôi đều nắm rõ. 

Thậm chí rõ hơn cả chính ông ta, vì tôi đọc được những dòng chữ mà ông ta chỉ có thể ngắm nhìn.

Vô chiêu thắng hữu chiêu. 

Kiếm không nằm ở tay, mà ở ý.

Tôi lướt người về phía rìa sân, nơi có một chiếc bàn gỗ bày trà bánh cho quần hùng. 

Trên bàn có một ống đũa tre. 

Tôi rút ra một chiếc.

Một chiếc đũa tre bình thường. 

Dài không quá một thước, nhẹ không quá một lạng.

Cả trang viện nhìn thấy, đồng loạt nín thở. 

Có người kêu lên thất thanh: 

Đạo trưởng, đừng đùa!

Đạt Nhĩ Ba nhìn chiếc đũa trong tay tôi, gương mặt to bè đỏ lên vì giận. 

Gã cho rằng tôi đang sỉ nhục gã. 

Gã gầm lên một tiếng như sấm, cây chày vàng múa tít, tạo thành một cơn lốc vàng rực, cuồn cuộn kình phong, lao thẳng tới. 

Nội lực của gã truyền vào cây chày, khiến nó phát ra những tiếng ù ù như tiếng gió bão, chân khí bao quanh nó như một lớp hào quang vàng.

Trong đầu tôi thì lại hiện ra nguyên lý: Phá Khí Thức.

Bất kỳ luồng chân khí nào, dù mạnh đến đâu, cũng có nơi nó khởi phát, có mạch nó vận hành. 

Đánh vào mạch ấy, khí tự tan.

Tôi không đỡ cây chày. 

Tôi bước vào giữa cơn lốc vàng, chiếc đũa tre trong tay khẽ điểm ra. 

Không nhanh, không mạnh, chỉ đúng một điểm, vào huyệt Khúc Trì trên khuỷu tay phải của gã, nơi chân khí của gã đang dồn từ cánh tay vào cây chày.

Đầu đũa vừa chạm vào, lớp hào quang vàng quanh cây chày khựng lại, như ngọn nến bị gió thổi chao đảo.

Phá Kình Thức.

Sức mạnh dù lớn đến đâu cũng có gốc. 

Gốc của Đạt Nhĩ Ba là đôi chân và vòng eo. 

Cây chày càng nặng, gã càng phải dựa vào chúng để xoay chuyển.

Chiếc đũa lại điểm ra. 

Huyệt Hoàn Khiêu bên hông. 

Huyệt Ủy Trung sau gối. 

Mỗi lần chỉ chạm nhẹ, như con chuồn chuồn đạp nước. 

Đạt Nhĩ Ba đang xoay người quét chày, đột nhiên eo khựng lại, chân khuỵu xuống nửa phần. 

Cây chày vàng nặng mấy chục cân mất đi lực đỡ, theo quán tính kéo cả thân hình khổng lồ của gã chao nghiêng về phía trước.

Gã gầm lên, cố gượng lại, giơ chày bổ xuống lần nữa.

Chiếc đũa của tôi đã chờ sẵn ở đó. 

Điểm vào cổ tay, nơi gân mạch hội tụ.

Năm ngón tay to như củ cà rốt của Đạt Nhĩ Ba bỗng nhiên tê dại, mất hết cảm giác. 

Cây chày vàng tuột khỏi tay, rơi xuống đất, đập một tiếng ầm nặng nề, lún sâu nửa thước.

Tôi đứng trước mặt gã, đầu đũa tre dừng lại cách huyệt Đản Trung giữa ngực gã chừng nửa tấc.

Đạt Nhĩ Ba đứng sững, hai tay buông thõng, nhìn xuống đầu chiếc đũa trước ngực mình, rồi nhìn cây chày vàng nằm dưới đất, như không tin vào mắt mình.

Cả trang viện câm lặng. 

Không ai thở mạnh.

Một chiếc đũa tre. 

Đánh rơi chày vàng của Đạt Nhĩ Ba.

Rồi, từ trên chiếc ghế cao ở cuối sân, lần đầu tiên kể từ khi bước vào Lục Gia Trang, Kim Luân Pháp Vương mở mắt.

Doan dai hiep C8

 Chương 8: Nỗi Nhục Dưới Bóng Hòe.


Tôi đứng lẫn trong đám đông, nghe ngóng từ những tiếng xì xào xung quanh, hiểu được tình hình ở Lục Gia Trang lúc này.

Anh Hùng Đại Hội được triệu tập để quần hùng Trung Nguyên đồng lòng chống Mông Cổ. 

Việc đầu tiên là phải bầu ra một vị Võ Lâm Minh Chủ, thống lĩnh các môn các phái. 

Quần hùng gần như không cần bàn bạc, đồng thanh đề cử Cửu Chỉ Thần Cái Hồng Thất Công. 

Một trong Ngũ Tuyệt, tiền nhiệm bang chủ Cái Bang, cả đời hành hiệp trượng nghĩa, danh vọng không ai sánh bằng.

Ngay lúc ấy, bọn người Mông Cổ xuất hiện.

Kim Luân Pháp Vương dẫn theo đệ tử cùng mấy cao thủ dưới trướng, ngang nhiên bước vào trang viện. 

Hoắc Đô thay sư phụ lên tiếng, nói rằng người Mông Cổ nay cũng đang ở Trung Nguyên, đã ở Trung Nguyên thì cũng là người trong võ lâm Trung Nguyên, phải có quyền tham gia tranh cử. 

Và họ đề cử Kim Luân Pháp Vương.

Quần hùng nhao nhao phản đối. 

Nhưng Hoắc Đô chỉ cười, buông một câu nhẹ tênh: 

trong giang hồ, ai mạnh người ấy làm chủ, sao không để hai vị đề cử đấu với nhau một trận, ai thắng người ấy làm minh chủ?

Câu nói ấy chặn họng tất cả. 

Người trong võ lâm, đã đến đây xưng anh xưng hùng, chẳng lẽ lại sợ đánh? 

Quyết định cuối cùng là để Hồng Thất Công và Kim Luân Pháp Vương đấu với nhau một trận.

Nhưng Hồng Thất Công không có ở đây.

Tôi đứng giữa đám đông, trong lòng lặng đi. 

Chỉ có tôi và Dương Quá biết, ông sẽ không bao giờ đến. 

Trên đỉnh Hoa Sơn phủ tuyết, Bắc Cái Hồng Thất Công và Tây Độc Âu Dương Phong, hai kẻ thù không đội trời chung suốt mấy chục năm, đã đấu với nhau trận cuối cùng. 

Đấu đến khi cạn kiệt nội lực, rồi ôm nhau cười lớn mà cùng ra đi. 

Thù hận cả một đời, cuối cùng tan biến trong một tràng cười.

Dương Quá là người duy nhất chứng kiến. 

Không có Hồng Thất Công, quần hùng đành đưa ra đề nghị: 

để đệ tử của Hồng Thất Công và đệ tử của Kim Luân Pháp Vương thay mặt sư phụ tỷ thí. 

Đệ tử ra trận, thắng thua cũng như sư phụ thắng thua.

Ai cũng nghĩ phần thắng đã nằm chắc trong tay. 

Đệ tử của Hồng Thất Công là ai? 

Là Bắc Hiệp Quách Tĩnh. 

Hàng Long Thập Bát Chưởng của hắn, thiên hạ hiện nay mấy ai đỡ nổi?

Nhưng Hoắc Đô đâu có ngu.

Mấy năm trước, khi Quách Tĩnh đưa Dương Quá lên núi Chung Nam gửi gắm cho Toàn Chân giáo, hắn từng chạm trán Hoắc Đô. 

Chỉ một chiêu, Hoắc Đô đã bại dưới tay hắn, chật vật tháo chạy. 

Nỗi nhục ấy, gã vương tử Mông Cổ kiêu ngạo này không bao giờ quên. 

Và gã biết rõ, mình không thể nào thắng được Quách Tĩnh.

Thế là gã nghĩ ra một cách.

Khoan đã. 

Hoắc Đô phe phẩy chiếc quạt, cười ngạo nghễ. 

Ai cũng biết, Hồng lão bang chủ có hai tuyệt học trấn bang, một là Hàng Long Thập Bát Chưởng, hai là Đả Cẩu Bổng Pháp. 

Mà Đả Cẩu Bổng Pháp xưa nay chỉ truyền cho bang chủ Cái Bang, là tuyệt học chân truyền đích thực. 

Vậy thì đệ tử chân truyền của Hồng lão bang chủ, ắt phải biết Đả Cẩu Bổng. 

Không biết Đả Cẩu Bổng, sao có thể gọi là đệ tử chân truyền?

Cả trang viện ồ lên.

Quách Tĩnh không biết Đả Cẩu Bổng Pháp. 

Năm xưa Hồng Thất Công chỉ dạy hắn Hàng Long Thập Bát Chưởng, còn Đả Cẩu Bổng thì truyền cho Hoàng Dung, khi nàng kế nhiệm chức bang chủ.

Một lý lẽ ngang ngược. 

Nhưng ngang ngược mà lại có lý. 

Quần hùng tức đến tím mặt, nhưng chẳng ai cãi lại được. 

Quách Tĩnh không được ra trận.

Người biết Đả Cẩu Bổng Pháp, đương nhiên là Hoàng Dung. 

Nhưng nàng đang mang thai, bụng đã lớn, sắp đến ngày sinh nở. 

Quách Tĩnh nhất quyết không để nàng mạo hiểm.

Còn lại một người. 

Lỗ Hữu Cước, người vừa được Hoàng Dung chuyển nhượng chức bang chủ Cái Bang ngay tại đại hội này. 

Ông ta đã học Đả Cẩu Bổng Pháp, dù chưa được bao lâu.

Lỗ Hữu Cước bước ra giữa sân, tay cầm cây gậy trúc xanh biếc, biểu tượng của bang chủ Cái Bang. 

Gương mặt ông nghiêm nghị, ánh mắt kiên quyết. 

Mấy vạn đệ tử Cái Bang dưới sân đồng loạt hô vang, tiếng hô như sấm dậy.

Hoắc Đô chỉ mỉm cười.

Trận đấu không kéo dài lâu. 

Đả Cẩu Bổng Pháp vốn là tuyệt học vô song, nhưng nó cần ngộ tính, cần thời gian, cần khẩu quyết và bộ pháp phối hợp nhuần nhuyễn. 

Lỗ Hữu Cước mới học được dăm bữa nửa tháng, chiêu thức thì có, nhưng tinh túy thì chưa. 

Còn Hoắc Đô, gã xảo quyệt như cáo, chiếc quạt sắt trong tay gã lúc thì đỡ gậy, lúc thì phóng ám khí, chiêu nào cũng nhắm vào chỗ hiểm.

Đến chiêu thứ hai mươi, cây gậy trúc trong tay Lỗ Hữu Cước bị đánh bay lên trời. 

Gã chưa dừng lại. 

Chiếc quạt sắt quét ngang, một tiếng rắc khô khốc vang lên. 

Lỗ Hữu Cước ngã quỵ xuống, ôm lấy cái chân gãy, mồ hôi đầm đìa, răng cắn chặt đến bật máu nhưng không kêu một tiếng.

Cả trang viện im phăng phắc.

Hoắc Đô bước tới, dùng mũi giày hất cây gậy trúc xanh lăn lóc trên đất, cười khẩy: 

Bang chủ Cái Bang mà chỉ có thế này thôi sao? Hóa ra cây gậy đánh chó này, đánh chó còn chưa xong.

Mấy vạn đệ tử Cái Bang nghiến răng, nắm đấm siết đến trắng bệch. 

Có kẻ đã rút đao, bị người bên cạnh giữ lại. 

Đánh hội đồng là tự nhận mình thua.

Rồi những người khác không chịu nổi nữa.

Một vị chưởng môn phái Thanh Thành rút kiếm bước ra, quát lớn rằng hôm nay thà chết cũng không để giặc Mông Cổ làm nhục Trung Nguyên. 

Ông ta trụ được ba mươi chiêu, rồi bị một quạt đánh vào ngực, hộc máu ngã xuống. 

Một vị đại hiệp nổi danh vùng Giang Nam với đôi phán quan bút, chưa đến hai mươi chiêu đã bị đánh rơi binh khí, gãy xương quai xanh. 

Hai huynh đệ họ Võ, đệ tử của Quách Tĩnh, cùng xông lên, chẳng mấy chốc đã bị đánh văng ra ngoài.

Khi Hoắc Đô mệt, một kẻ khác bước lên thay.

Đạt Nhĩ Ba, nhị đệ tử của Kim Luân Pháp Vương. 

Một gã lạt ma to lớn như quả núi, cầm cây chày vàng nặng mấy chục cân. 

Gã không xảo quyệt như sư đệ, nhưng thần lực kinh người, mỗi chày đập xuống, đất đá tung tóe. 

Đệ tử của Nhất Đăng đại sư, Chu Tử Liễu, người từng làm tể tướng nước Đại Lý, văn võ song toàn, tinh thông Nhất Dương Chỉ, ra trận đối đầu. 

Hai bên giằng co gần trăm chiêu, cuối cùng Chu Tử Liễu cũng bị một chày đánh trúng vai, lảo đảo lùi lại, sắc mặt trắng bệch.

Ngay cả đệ tử của Nam Đế cũng bại.

Tôi nhìn quanh trang viện.

Cả vạn anh hùng các lộ. 

Có những người từng tung hoành một phương, có những người đứng đầu một môn phái, có những người mà danh tiếng khiến giặc cướp nghe thấy phải run sợ. 

Giờ đây, họ đứng đó, đầu cúi xuống, mặt đỏ bừng vì nhục nhã, tay siết chặt binh khí mà không ai dám bước ra.

Có một lão anh hùng râu tóc bạc phơ, đứng cạnh tôi, run run nói với người bên cạnh, giọng nghẹn lại: 

Ta sống đến từng này tuổi, chưa từng thấy võ lâm Trung Nguyên bị sỉ nhục đến mức này. 

Giặc Mông Cổ cướp đất ta, giết dân ta, giờ còn đến tận đây mà làm minh chủ của ta. Ta có mặt mũi nào xuống dưới gặp tổ tông?

Người bên cạnh không trả lời. 

Chỉ có tiếng thở dài.

Ở một góc khác, mấy đệ tử Cái Bang trẻ tuổi đang khóc. 

Không phải vì sợ. 

Mà vì tức. 

Vì nhìn bang chủ của mình bị đánh gãy chân, nhìn cây gậy trúc xanh thiêng liêng bị người ta đá lăn trên đất, mà chẳng làm được gì.

Còn Quách Tĩnh.

Hắn đứng ở hàng đầu, cạnh Hoàng Dung, hai nắm tay siết chặt đến run rẩy. 

Gương mặt chất phác ấy đỏ bừng rồi tái nhợt, tái nhợt rồi lại đỏ bừng. 

Cả võ lâm Trung Nguyên chỉ còn mình hắn chống đỡ được, nhưng hắn lại không được ra tay.

Và ngay cả khi được ra tay, hắn cũng phải kiềm chế. 

Vì sau lưng Hoắc Đô, sau lưng Đạt Nhĩ Ba, còn một người.

Kim Luân Pháp Vương vẫn ngồi đó, nhắm mắt, lần tràng hạt. 

Từ đầu đến cuối, lão chưa từng mở mắt nhìn trận đấu một lần. 

Như thể những gì đang diễn ra dưới sân chỉ là trò đùa của trẻ con.

Nhưng tôi thấy rõ, mỗi khi Quách Tĩnh khẽ nhích người về phía trước, khí thế quanh lão lại khẽ dâng lên một chút, như một con mãnh hổ đang nằm ngủ khẽ động mi mắt. 

Quách Tĩnh cảm giác được điều đó. 

Hắn cảm giác được lão tăng này rất mạnh, mạnh hơn bản thân hắn một bậc. 

Hắn mà ra tay với đám đệ tử, lão tăng kia chắc chắn sẽ không ngồi yên.

Còn tôi, bộ não một trăm phần trăm cho tôi thấy rõ hơn ai hết. 

Khí tức của Kim Luân Pháp Vương sâu như biển, nội lực hùng hậu đến mức tôi chỉ đứng từ xa cũng cảm thấy như có một tảng đá đè lên ngực. 

Long Tượng Bát Nhã Công của lão, nếu tôi nhớ không lầm, đã luyện đến tầng thứ mười. 

Với chút nội lực hiện tại của tôi, đối đầu trực diện với lão, chỉ có con đường chết.

Hoắc Đô vươn vai, phe phẩy quạt, cất giọng sang sảng khắp trang viện:

Thế nào? 

Võ lâm Trung Nguyên hết người rồi sao? Nếu không còn ai, vậy thì chức minh chủ này, sư phụ ta xin nhận vậy. 

Từ nay về sau, võ lâm Trung Nguyên phải nghe lệnh Kim Luân Pháp Vương. Mà Kim Luân Pháp Vương, lại nghe lệnh Đại Hãn Mông Cổ. Ha ha ha!


Tiếng cười của gã vang vọng giữa những tán hòe già. 

Cả vạn người nghe thấy, mà không một ai lên tiếng.

Tôi đưa mắt về phía góc trang viện.

Dưới gốc cây hòe xa nhất, hai bóng người ngồi sát bên nhau. 

Một bóng áo trắng, một thiếu niên áo xám. 

Tiểu Long Nữ và Dương Quá đã gặp lại nhau. 

Họ ngồi đó, tay trong tay, nàng khẽ tựa vào vai cậu ta, cậu ta cúi xuống thì thầm điều gì đó khiến nàng khẽ mỉm cười. 

Lần đầu tiên tôi thấy nàng cười.

Họ đang tâm sự quên trời quên đất, chẳng màng đến thế sự. 

Trận đấu, chức minh chủ, sự sống còn của võ lâm Trung Nguyên, tất cả như không hề tồn tại với họ.

Nhưng tôi biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. 

Trong nguyên tác, chính lúc này, Dương Quá sẽ bước ra, dùng những chiêu thức kỳ quái khiến Hoắc Đô bẽ mặt. 

Rồi Tiểu Long Nữ sẽ cùng cậu ta sóng vai đối địch. 

Hai người sẽ có cơ hội lĩnh ngộ Song Kiếm Hợp Bích, thứ kiếm pháp chỉ có thể thi triển khi hai trái tim hòa làm một. 

Tình cảm giữa họ sẽ càng thêm sâu đậm, sẽ được cả võ lâm chứng kiến.

Đến khi ấy, tôi càng khó chen chân vào giữa.

Không. 

Tôi không thể để chuyện đó xảy ra.

Tôi hít sâu một hơi, vận Vô Danh Công. 

Cánh cửa trong đầu bật mở, thế giới chậm lại. 

Rồi tôi tung người lên, lướt qua đầu đám đông, đáp xuống giữa sân, ngay trước mặt Hoắc Đô.

Cả trang viện xôn xao liền im bặt.

Tôi chắp tay hướng về bốn phía, cất giọng, vận nội lực để tiếng nói vang khắp trang viện:

Bần đạo Doãn Chí Bình, đệ tử đời thứ ba của Toàn Chân giáo.

Hoắc Đô nheo mắt nhìn tôi, nụ cười trên môi khẽ cứng lại.

Các vị anh hùng.

Tôi tiếp lời, chậm rãi. 

Hồng lão bang chủ không có mặt, việc tỷ thí giữa đệ tử hai bên đã thành ra như thế này, cũng là ý trời. 

Nhưng chức Võ Lâm Minh Chủ là việc hệ trọng, thống lĩnh cả võ lâm Trung Nguyên, há có thể chỉ có hai vị đề cử? 

Theo bần đạo, vị trí minh chủ nên để một vị đạo sĩ đức cao vọng trọng, đứng đầu chính phái, đảm nhận.

Tôi ngẩng đầu, nói rõ từng chữ:

Bần đạo xin đề cử chưởng giáo Toàn Chân giáo, người đứng đầu Toàn Chân Thất Tử, Đan Dương Tử Mã Ngọc chân nhân.

Doan dai hiep C7

 Chương 7: Bóng Áo Trắng Trên Đường Giang Hồ.


Mê dược của Tử Y Hồ không phải thứ tầm thường.

Hai ngày hai đêm, tôi ngồi xếp bằng ở góc phòng, quay lưng về phía giường, vừa tu luyện Vô Danh Công, vừa lắng nghe hơi thở của nàng.

Mấy lần muốn làm nữa, nhưng nàng đã không còn chất kích thích trong người, tôi không nghĩ ra lí do chính đáng để biện hộ cho hành động cầm thú của mình.

Tôi tự hỏi mình đang làm gì. 

Một kẻ trọng sinh mang theo tham vọng chinh phục thiên hạ, đáng lẽ phải đang trên đường về Cổ Mộ để luyện Cửu Âm Chân Kinh, lại ngồi đây canh giấc ngủ cho một người con gái mà trong lòng nàng chỉ có một bóng hình khác.

Nhưng tôi không đi được.

Sáng ngày thứ ba, nàng tỉnh lại.

Tôi nghe tiếng sột soạt rất khẽ trên giường, rồi một khoảng im lặng dài. 

Tôi đứng dậy, quay lại.

Nàng đã ngồi dậy, lưng tựa vào vách, tay khẽ siết lấy mép chăn. 

Đôi mắt ấy, lần đầu tiên tôi nhìn thấy trọn vẹn không bị che khuất, trong như nước hồ thu, lạnh như sương đầu đông, đang nhìn thẳng vào tôi.

Và nàng nhận ra tôi.

Tôi thấy rõ điều đó. 

Ánh mắt nàng khẽ lay động, rồi lạnh hẳn đi. 

Ánh nhìn rơi xuống bàn tay trái của tôi, nơi chỉ còn ba ngón.

Phải. 

Ký ức ấy của Doãn Chí Bình, tôi đã cố tình không lật lại quá nhiều. 

Một đêm trăng trong khu vườn sau Cổ Mộ, hắn và Triệu Chí Kính lén đi theo, tình cờ bắt gặp nàng và Dương Quá cùng tu luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh. 

Môn công phu ấy đòi hỏi người luyện phải cởi bỏ y phục để nhiệt khí tản ra ngoài, tránh tẩu hỏa nhập ma. 

Dương Quá phát hiện có kẻ rình trộm, giận dữ ra tay. 

Doãn Chí Bình mất hai ngón tay trong đêm ấy.

Và cũng từ đêm ấy, tâm ma của hắn bùng lên không còn cứu vãn được.

Ngươi là… đạo sĩ trên núi Chung Nam. 

Giọng nàng nhẹ, lạnh, không có chút cảm xúc nào. 

Doãn Chí Bình.

Phải. 

Tôi chắp tay, khẽ cúi đầu. 

Tiểu Long cô nương, cô nương đã tỉnh.

Nàng không trả lời ngay. 

Nàng nhìn quanh gian phòng xa lạ, nhìn bát cháo nguội trên bàn, nhìn tấm áo khoác đạo bào của tôi vẫn còn đắp trên người nàng. 

Rồi nàng khẽ cau mày, đưa tay đặt lên ngực, như đang lắng nghe điều gì đó bên trong cơ thể mình.

Tôi biết nàng đang cảm nhận được gì. 

Chút nhiệt độc còn sót lại trong kinh mạch, thứ cảm giác vừa lạ vừa quen, không nói rõ được. 

Nàng cảm giác được thân thể có gì đó, nhưng không giải thích được. 

Mà ngủ say gần hai ngày, đầu óc nàng cũng chẳng còn nhớ gì nữa.

Ta… đã xảy ra chuyện gì?

Tôi kể lại cho nàng, ngắn gọn. 

Về quầy hoa quả bên đường, về ông lão bán hàng bị giết, về những quả lê tẩm thuốc, về Tử Y Hồ Tiêu Ngọc Lang. 

Cô nương, giang hồ hiểm ác hơn cô nương tưởng. 

Tôi nói, giọng chậm rãi. 

Có những kẻ trông như người tốt, mời cô nương chén trà, bán cho cô nương quả lê, nhưng trong lòng chúng là rắn rết. Mong cô nương sau này đi lại phải cẩn thận hơn.

Nàng nghe hết, gương mặt vẫn lạnh nhạt như cũ. 

Rồi nàng gấp tấm áo đạo bào lại, đặt ngay ngắn lên mép giường, bước xuống đất.

Đa tạ.

Chỉ hai chữ. 

Rồi nàng đi ra cửa.

Tôi không giữ nàng lại. 

Tôi biết mình không có tư cách. 

Trong mắt nàng, tôi vẫn là kẻ từng rình trộm nàng trong đêm trăng ấy. 

Một lần cứu mạng, chưa đủ để xóa đi điều đó.

Bóng áo trắng khuất dần sau góc phố.

Tôi đứng lặng một lúc lâu, rồi khoác áo, đi theo.

Sau chuyện này, tôi không nỡ để Tiểu Long Nữ lang thang một mình trên giang hồ hiểm ác. 

Cổ Mộ, Cửu Âm Chân Kinh, tất cả có thể đợi thêm. 

Tôi bí mật theo phía sau nàng, giữ một khoảng cách đủ xa để nàng không phát hiện, đủ gần để kịp ra tay nếu có chuyện.

Để mặc nàng đi lang thang, đến khi nàng nghĩ thông suốt.

Và rồi tôi mới biết, những gì người dân kể lại chỉ là một phần nhỏ.

Nàng vẫn ngây thơ như vậy. 

Một lần cận kề hiểm nguy cũng chẳng thay đổi được gì. 

Đói bụng, nàng vẫn đến các quầy hàng, cầm cái bánh, quả táo lên ăn, rồi lặng lẽ đi tiếp như thể đó là chuyện đương nhiên trên đời. 

Tôi đành lén đặt tiền lại cho từng người bán hàng sau lưng nàng. 

Có bà lão bán bánh ngơ ngác nhìn mấy đồng bạc vụn trong tay, rồi nhìn theo bóng áo trắng xa dần, lắc đầu cười.

Khi thấy cơ thể không sạch, gặp dòng suối trong ven đường, nàng sẵn sàng trút bỏ xiêm y mà xuống tắm, thản nhiên như một tiên nữ trong tranh, như thể giữa trời đất này chẳng có ai khác ngoài nàng.

Lần đầu thấy cảnh đó, tôi nóng bừng, ngồi sau một tảng đá lớn cách đó cả trăm bước, não bộ hoạt động hết công suất phân tích từng khung hình. 

Rồi lần thứ hai, lần thứ ba, tôi học được cách nhất tâm đa dụng. 

Một tâm cảnh giới xung quanh, nhiều tâm khác tập trung vào chuyên môn quan sát..

Một lần, có ba gã tiều phu nghe tiếng nước, len lén bò qua bụi rậm. 

Chúng chưa kịp ngẩng đầu đã bị một hòn sỏi nhỏ đánh trúng huyệt ngủ, nằm lăn ra giữa đám cỏ, đến tối mới tỉnh, chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Một lần khác, ở một trấn nhỏ, có gã con nhà phú hộ dẫn theo bảy tám tên gia nhân chặn đường nàng, buông lời trêu ghẹo. 

Nàng còn chưa kịp động thủ, cả đám đã ôm bụng lăn lộn dưới đất, kêu la thảm thiết. 

Nàng nhìn chúng một thoáng, khẽ nghiêng đầu như không hiểu, rồi bước qua đi tiếp.

Nàng không biết rằng, trên mái nhà bên kia đường, có một đạo sĩ vừa thu tay về.

Đêm ấy, nằm trên một cành cây cách chỗ nàng nghỉ chân chừng trăm trượng, tôi nhìn lên bầu trời đầy sao và không khỏi tự hỏi.

Trong nguyên tác, Kim Dung để nàng lang thang một mình suốt quãng thời gian này, mà nàng lại ngây thơ đến mức ấy. 

Ăn không trả tiền, tắm giữa suối không chút đề phòng, không biết lòng người hiểm ác là gì. 

Võ công nàng cao thật, nhưng võ công không chống được mê dược, không chống được những cái bẫy giăng sẵn bên đường. 

Làm sao nàng có thể bình an vô sự suốt chừng ấy thời gian?

Hay là nàng chỉ may mắn? 

Hay là có những hiểm nguy nàng đã đi ngang qua mà chính nàng cũng không hề hay biết, ngay cả người viết ra nàng cũng không biết?

Tôi không có câu trả lời. 

Tôi chỉ biết rằng, ở thế giới này, nàng sẽ không phải dựa vào may mắn nữa.

Hơn một tháng trôi qua.

Tôi theo nàng qua bao nhiêu làng mạc, thị trấn, qua bao nhiêu con sông, ngọn đồi. 

Nàng đi không có phương hướng, lúc nam lúc bắc, như chiếc lá trôi trên dòng nước. 

Có những buổi chiều nàng ngồi hàng giờ trên bờ sông, nhìn nước chảy, gương mặt trống rỗng. 

Có những đêm tôi nghe nàng khẽ gọi một cái tên trong giấc ngủ.

Quá nhi…

Mỗi lần nghe tiếng gọi ấy, có thứ gì đó trong lồng ngực tôi lại nhói lên.

Nhưng tôi biết, đó là điều tất yếu. 

Trái tim không phải thứ có thể giành lấy bằng một lần cứu mạng.

Có tiền nhân từng nói, nữ nhân như một bài toán, chiếm thể xác và chiếm trái tim và hai nghiệm của 1 phương trình! Phần nào dễ thì ta cứ làm trước. 

Với Tiểu Long Nữ, tôi đã làm xong phần dễ, thậm chí làm hơn 1 lần. 

Nhưng tôi không đủ can đảm thú nhận trước mặt nàng. 

Với nàng, tôi không nghĩ rằng chỉ cần chiếm được thể xác là sẽ chiếm được cả trái tim! 

Muốn nàng nhìn về phía mình, tôi cần thời gian, cần cơ hội để nàng nhìn.

Rồi một buổi sáng, tôi thấy nàng đứng bên bờ suối rất lâu. 

Nắng sớm rọi lên gương mặt nàng, và lần đầu tiên sau hơn một tháng, đôi mắt ấy không còn trống rỗng nữa. 

Có thứ gì đó đã được quyết định.

Nàng quay người, đi về hướng đông bắc. 

Bước chân dứt khoát, không còn lững thững như trước.

Nàng đã nghĩ thông suốt. 

Nàng đi tìm Dương Quá.

Tôi biết nàng sẽ đến đâu. 

Ký ức về nguyên tác hiện lên rõ ràng: 

Anh Hùng Đại Hội ở Lục Gia Trang, nơi quần hùng Trung Nguyên tụ họp để bàn cách chống Mông Cổ, nơi Hoàng Dung chuyển nhượng chức bang chủ Cái Bang cho Lỗ Hữu Cước, và cũng là nơi xảy ra cuộc tranh đấu đầu tiên giữa nhân sĩ võ lâm Trung Nguyên với Kim Luân Pháp Vương. 

Ở đó, nàng sẽ gặp lại Dương Quá.

Tôi siết chặt nắm tay, rồi bước theo.

Lục Gia Trang nằm giữa một vùng đất bằng phẳng, xung quanh trồng rất nhiều cây hòe. 

Những tán hòe già cỗi xòe rộng, rễ cây trồi lên mặt đất như những con rắn khổng lồ. 

Trong trang viện, cờ phướn rợp trời, người đông như kiến cỏ. 

Đạo sĩ, hòa thượng, khất cái, hiệp khách, đủ cả. 

Có lẽ một nửa võ lâm Trung Nguyên đã tụ về đây.

Nhưng khi tôi tới nơi, không khí trong trang viện chẳng hề giống một đại hội anh hùng.

Nó giống một đám tang.

Ở chính giữa sân, trên một khoảng đất trống đã bị giẫm nát, một thanh niên áo gấm đang đứng chắp tay sau lưng, chiếc quạt xếp phe phẩy trên tay, gương mặt đẹp đẽ mà kiêu căng ngạo mạn. 

Hắn mặc y phục người Mông Cổ, cổ đeo chuỗi ngọc, ánh mắt nhìn xuống quần hùng xung quanh như nhìn một đám kiến.

Dưới chân hắn, ba bốn người đang nằm rên rỉ. 

Có người gãy tay, có người hộc máu.

Hoắc Đô. 

Đệ tử của Kim Luân Pháp Vương. 

Vương tử Mông Cổ.

Còn ai nữa không? 

Hắn cười, giọng nói ngọt ngào mà đầy khinh miệt. 

Ta nghe nói võ lâm Trung Nguyên nhân tài vô số, hóa ra chỉ có thế này thôi sao?

Phía sau hắn, trên một chiếc ghế cao, một lão tăng gầy gò mặc áo cà sa đỏ thẫm đang ngồi nhắm mắt, tay lần tràng hạt, như thể mọi chuyện chẳng liên quan gì đến mình. 

Bên cạnh lão là mấy kẻ khác, dáng vẻ kỳ dị, mỗi người tỏa ra một luồng khí thế khiến người ta rợn tóc gáy.

Kim Luân Pháp Vương.

Quần hùng Trung Nguyên đứng xung quanh, mặt mũi xám ngoét, không ai dám bước ra.

Tôi đứng lặng giữa đám đông, ánh mắt quét qua khắp trang viện. 


Doan dai hiep C6

 Chương 6: Quầy Hoa Quả Bên Đường


Đêm thứ ba sau trận tỷ võ với Quách Tĩnh, tôi ngồi tĩnh tọa trên mái phủ, để Vô Danh Công vận hành trong cơ thể, quan sát sâu vào bên trong chính mình.

Và tôi nhìn thấy một điều mà mấy tháng qua mình đã bỏ sót.

Vô Danh Công không hề luyện ra nội lực.

Thứ nó tạo ra là một thứ khác hẳn. 

Không phải luồng khí ấm nóng chảy trong kinh mạch như chân khí, cũng không tích tụ ở đan điền. 

Nó ngưng tụ ngay trong đầu tôi, ở một nơi sâu thẳm phía sau trán, như một tinh vân nhỏ đang chậm rãi xoay tròn, mờ ảo, lấp lánh, mỗi ngày lại dày đặc thêm một chút. 

Tôi gọi nó là Thế Giới Lực, vì trên tảng đá, người đồng hương kia từng nhắc đến ba chữ ấy đúng một lần, rồi không giải thích thêm.

Tôi thử dẫn nó ra. 

Không được. 

Tôi thử dùng ý niệm chạm vào nó. 

Nó vẫn lặng lẽ xoay, như một vì sao ở rất xa, nhìn thấy được mà không với tới.

Người đồng hương không để lại lời nào về việc khi nào, hay phải kích hoạt điều kiện gì, thì mới có thể sử dụng Thế Giới Lực. 

Tôi suy đi tính lại, chỉ có thể đoán rằng chỉ khi thật sự khai mở được tiểu thế giới trong cơ thể, tôi mới có thể dùng thứ sức mạnh đang dần lớn mạnh này.

Còn hiện tại, cái giúp tôi đánh ngang tay với Quách Tĩnh, vẫn chỉ là chút nội lực ba mươi năm của Doãn Chí Bình, được bộ não một trăm phần trăm vắt kiệt đến giọt cuối cùng.

Thế là không đủ.

Muốn đối đầu với những cao thủ Mông Cổ thực sự như Kim Luân Pháp Vương, như Ni Ma Tinh ... là những kẻ còn ẩn mình trong đại quân của Hốt Tất Liệt, tôi cần nội lực. 

Nhiều nội lực. 

Và cần nhanh.

Tiên Thiên Công của Vương Trùng Dương, hay những tuyệt học như Hàng Long Thập Bát Chưởng, đều cần thời gian rất dài mới xây được nền móng nội lực hùng hậu. 

Muốn đi đường tắt, nhất định phải tu luyện bản chính thức của Cửu Âm Chân Kinh.

Trong thiên hạ hiện nay, người biết Cửu Âm Chân Kinh không nhiều. 

Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Chu Bá Thông, Nhất Đăng đại sư. 

Nhưng những người đó chắc chắn sẽ không chia sẻ nó với một đạo sĩ Toàn Chân. 

Nếu ép buộc, khả năng cao tôi sẽ nhận được một bản nghịch đạo như Hoàng Dung từng đưa cho Âu Dương Phong năm xưa. 

Mà kết cục của lão điên kia thì tôi đã thấy rõ.

Nhưng tôi biết một nơi khác.

Trong mật thất ở Cổ Mộ, nơi Vương Trùng Dương và Lâm Triều Anh từng yêu nhau mà không thành, tổ sư đã khắc lại toàn bộ Cửu Âm Chân Kinh lên trần đá. 

Nhờ đó mà Dương Quá học được bản thật, nội lực tăng tiến thần tốc, tuổi trẻ mà không hề thua kém cao thủ đời trước.

Giờ đây, cả Tiểu Long Nữ lẫn Dương Quá đều đã rời khỏi Cổ Mộ. 

Nơi đó không còn ai, chỉ có những loại bẫy rập bố trí theo kỳ môn độn giáp bảo vệ. 

Với người khác, trận pháp như vậy rất khó vượt qua nếu không nắm rõ yếu quyết bố trí. 

Nhưng với một bộ não vận hành ở mức một trăm phần trăm, có lẽ không quá khó.

Sáng hôm sau, tôi từ biệt Quách Tĩnh.

Đệ muốn về núi một chuyến, có chút việc tu luyện cần giải quyết.

Quách Tĩnh không hỏi nhiều, chỉ nắm chặt tay tôi: 

Bao giờ xong việc, nhớ quay về Tương Dương. Thành này cần đệ.

Tôi gật đầu. 

Phía sau hắn, Hoàng Dung đứng tựa cửa, mỉm cười tiễn tôi, nụ cười dịu dàng mà ánh mắt sâu không thấy đáy.

Đường về Chung Nam Sơn dài hơn nửa tháng.

Ngày thứ chín, tôi đi qua một thị trấn nhỏ ven sông, nơi những con đường đất đỏ chạy ngoằn ngoèo giữa ruộng lúa và rặng liễu đã trụi lá. 

Tôi ghé vào một quán trà ven đường nghỉ chân, đang định gọi một bát mì, thì nghe thấy mấy người dân ngồi bàn bên cạnh xì xào.

…Thật đấy, ta tận mắt thấy. Đẹp như tiên giáng trần, áo trắng toát, đi mà như không chạm đất.

Lại là cô ấy à? Hôm qua cũng có người kể ở chợ phía tây. Cô ta đi ngang sạp hoa quả của lão Trương, cầm quả lê lên ăn luôn, chẳng trả tiền gì cả. Lão Trương định giữ lại, nhưng nhìn cô ta ngơ ngơ ngác ngác, mặt mũi đẹp mà buồn như vậy, cuối cùng lại thôi, còn cho thêm hai quả.

Tội nghiệp. Chắc là tiểu thư nhà nào gặp nạn, mất trí rồi.

Tay tôi khựng lại trên chén trà.

Áo trắng. 

Đẹp như tiên. 

Không biết trả tiền.

Tôi đã biết là ai.

Trong nguyên tác, sau đêm định mệnh kia, Tiểu Long Nữ hỏi Dương Quá có chịu lấy nàng làm vợ không. 

Dương Quá ngây ngô, vẫn coi nàng là sư phụ, không dám trả lời. 

Nàng tưởng hắn là kẻ phụ bạc, đau lòng bỏ đi. 

Nàng là cô gái đơn thuần, cả đời sống trong Cổ Mộ, thậm chí không biết tiền là gì. 

Đi đường đói bụng, cứ thấy người ta bán hoa quả là thản nhiên lấy ăn. 

Cũng may người dân nơi này tốt tính, thấy cô nương xinh đẹp như tiên, có vẻ tội nghiệp, nên chẳng ai nỡ bắt nàng lên quan phủ. 

Nàng cứ thẫn thờ như người mất hồn mà đi như vậy.

Với võ công của nàng, những kẻ háo sắc tầm thường không thể làm gì được nàng.

Nhưng câu chuyện tiếp theo của mấy người dân khiến tôi lạnh sống lưng.

…Mà này, các ông có để ý không, mấy hôm nay có một gã công tử mặc áo lụa tím cứ lảng vảng quanh đây. Mặt trắng như thoa phấn, tay cầm quạt. Hôm trước ta thấy hắn đi theo cô gái áo trắng kia từ đầu chợ đến cuối chợ.

Áo tím, cầm quạt? 


Một lão già bàn bên khẽ rùng mình, hạ giọng. 

Đừng nói là Tử Y Hồ đấy nhé. Ta nghe nói ở Hà Nam có mấy nhà mất con gái, đều là bị một gã áo tím...

Tôi đặt chén trà xuống, để lại mấy đồng tiền, bước ra khỏi quán.

Tử Y Hồ Tiêu Ngọc Lang.

Ký ức của Doãn Chí Bình về cái tên này không nhiều, nhưng đủ. 

Một tên dâm tặc khét tiếng giang hồ vùng Hà Nam, Hồ Bắc. 

Võ công không cao, nhưng khinh công cực giỏi, lại tinh thông các loại mê dược, độc dược. 

Hắn chuyên nhắm vào những thiếu nữ con nhà lương thiện, hại không biết bao nhiêu người. 

Các môn phái chính đạo nhiều lần truy bắt, nhưng hắn xảo quyệt như cáo, lần nào cũng trốn thoát.

Tôi vận Vô Danh Công, dồn toàn bộ tâm trí vào việc nghe ngóng, quan sát. 

Bộ não một trăm phần trăm biến cả thị trấn thành một tấm bản đồ sống trong đầu tôi. 

Những lời bàn tán ở chợ, dấu chân trên đường đất, hướng đi của người qua lại, từng mảnh ghép một khớp lại với nhau.

Và tôi hiểu ra hắn đã theo nàng bao lâu.

Ba ngày trước, ở thị trấn phía bắc, có người thấy hắn mời nàng một chén trà ở quán ven đường. 

Nàng không uống, chỉ nhìn chén trà một lúc rồi đứng dậy bỏ đi, như thể chẳng hề nhận ra có người đang ngồi đối diện mình. 

Hai ngày trước, có kẻ thấy hắn thả một làn khói nhẹ từ trong ống tay áo khi nàng đi ngang qua một con hẻm hẹp. 

Nhưng đúng lúc ấy gió đổi chiều, nàng bước tiếp mà không hề hay biết rằng mình vừa thoát được một lần.

Nàng không hề biết mình đang bị săn.

Nàng thoát được, không phải vì cảnh giác, mà vì nàng chẳng hề để tâm đến thế giới xung quanh. 

Tâm trí nàng vẫn còn ở lại bên Dương Quá, ở cái câu trả lời khiến nàng đau lòng. 

Một con nai trắng lững thững trong rừng, không biết sau bụi cây có một con cáo đang rình. 

Mỗi lần thoát được là một lần may mắn.

Nhưng may mắn không kéo dài mãi.

Tôi lao ra khỏi thị trấn theo hướng nam, nơi người ta nói đã thấy bóng áo trắng đi về chiều hôm trước.

Con đường đất chạy dài giữa hai rặng tre. 

Gió chiều lạnh, mặt trời đã ngả về tây, nhuộm đỏ những ngọn tre đung đưa.

Cách thị trấn chừng hai mươi dặm, tôi thấy một quầy hoa quả nhỏ dựng ven đường. 

Mái lá đơn sơ, mấy cái sọt tre đựng đầy lê, táo, quýt đỏ au, xếp gọn gàng, tươi rói, như vừa hái từ trên cây xuống. 

Một quầy hàng bình thường, giữa một con đường vắng.

Quá bình thường.

Tôi dừng lại, bộ não tự động phân tích mọi chi tiết. 

Dấu chân quanh quầy hàng: một đôi giày vải cũ của người già, đã nhạt đi vì gió. 

Và một đôi giày gấm, mới, sắc nét.

Mùi máu. 

Rất nhạt, bị mùi hoa quả che lấp, nhưng vẫn còn đó.

Tôi bước vòng ra sau quầy hàng. 

Trong rãnh nước cạn sau bụi tre, một ông lão nằm sấp, áo vải thô, hai bàn tay chai sạn. 

Trên cổ có một vết cắt mảnh, gọn gàng. 

Người bán hoa quả thật sự.

Bên đường, không còn quầy hàng nào khác. 

Chỉ có duy nhất một quầy này. 

Hắn đã đi trước, giết ông lão bán hoa quả, giữ lại đúng một quầy hàng, do chính hắn đứng bán. 

Hắn biết nàng đói. 

Hắn biết nàng sẽ lấy ăn. 

Hắn tẩm toàn bộ chỗ hoa quả ấy trong mê dược và thứ thuốc hạ lưu của hắn, rồi chỉ việc ngồi chờ.

Tôi cúi xuống nhìn sọt lê. 

Trên cùng có một quả đã bị cắn dở. 

Vết cắn nhỏ, đều đặn, như của một cô gái.

Bên cạnh, vài cánh hoa trắng rơi trên mặt đất, cùng một vệt dài như có thứ gì đó bị kéo lê, dẫn vào rừng tre.

Nàng đã đến. 

Nàng đã ăn. 

Và nàng đã ngất đi.

Tôi không nghĩ thêm được gì nữa.

Trong rừng tre, cách đường cái chừng năm mươi trượng, có một bụi rậm dày, khuất sau mấy tảng đá lớn.

Tử Y Hồ Tiêu Ngọc Lang đang đứng đó, chiếc quạt giắt sau lưng, gương mặt trắng bệch như thoa phấn đang nở một nụ cười thỏa mãn. 

Ở dưới chân hắn, trên lớp lá tre khô, Tiểu Long Nữ nằm bất động. 

Mái tóc đen xõa tung, gương mặt tái nhợt, đôi mắt nhắm nghiền, hơi thở gấp gáp, dường như đã trúng phải một loại thuốc kích thích nào đó.

Hắn cười khẽ, giọng the thé như tiếng mèo:

Tiên nữ ơi là tiên nữ, ta đã theo nàng bảy ngày. Bảy ngày đấy. Trà không uống, hương không ngửi, nàng đúng là khó chiều. Nhưng cuối cùng thì...

Hắn cúi người xuống, bàn tay vươn về phía nàng, từ từ gỡ từng lớp vải.

Đôi mắt hắn trừng lớn, nhìn từng đường nét tuyệt đẹp của nàng đang dần dần lộ ra.

Hắn hít sâu một hơi, máu trong người chảy rần rần. 

Một đời làm dâm tặc, gần ngàn thiếu nữ đã nằm dưới hắn. 


Từ tiểu thư khuê các, tới thôn nữ chất phác hay hiệp nữ giang hồ, nhưng hắn chưa từng thấy ai đẹp như nàng!

Hắn tự cởi đồ, nâng đôi chân ngọc ngà, ánh mắt chăm chú si mê. 

Chỉ một chút nữa thôi............

Nhưng một chút này kéo dài thành vĩnh viễn. Vì tôi đã xuất hiện, 1 chưởng đánh bay Tiêu Ngọc Lang.

Tiêu Ngọc Lang kinh hoàng, miệng phun máu, nhưng hắn phản ứng cực nhanh. 

Trong lúc bay ra, tay trái hắn vung lên, một làn bột phấn hồng được ném thẳng vào mặt tôi. 

Mê dược. 

Ẩn sau làn phấn hồng, còn có một ánh kim loại loé lên, là một thanh phi đao.

Trong mắt tôi, làn bột phấn ấy lơ lửng như một đám mây chậm chạp. 

Tiêu Ngọc Lang nổi danh về khinh công, nếu cho hắn thêm thời gian, bỏ chạy, tôi sẽ không theo kịp. 

Vì vậy tôi đã vươn tay, bắt lấy chính thanh phi đao của hắn, ném ngược trở lại. 

Phi đao bay lại với tốc độ nhanh hơn mấy lần, lướt nhẹ qua khúc gân còn đang vươn ra của Tiêu Ngọc Lang. 

Hắn hét lên thảm thiết. 

Lăn lộn trên đất, 2 tay ôm háng. 

Bên cạnh là một khúc xúc xích và 2 quả trứng chim cút lặng lẽ nằm trong vũng máu.

Tôi quay lại nhìn Tiểu Long Nữ.

Hơi thở đã rất dồn dập, gương mặt ửng hồng diễm lệ. 

Thuốc kích thích đã đạt đỉnh tác dụng. 

Tôi cởi áo khoác ngoài, đắp lên người nàng.

Tôi đứng trước Tiêu Ngọc Lang.

Bộ não một trăm phần trăm của tôi đếm từng tội ác của hắn mà người dân đã kể. 

Những gia đình mất con gái ở Hà Nam. Ông lão bán hoa quả nằm trong rãnh nước. 

Và những gì sẽ xảy ra, nếu tôi đến chậm thêm một khắc.

Giết hắn, quá dễ. Một chưởng là xong.

Nhưng Quách Tĩnh nói, giết một kẻ ác là cứu được nhiều người vô tội. 

Còn tôi nghĩ, với loại người này, cái chết lại là quá nhẹ. 

Hắn sẽ không phải sống cùng những gì hắn đã làm. 

Hắn sẽ không phải biết cảm giác mất đi thứ quý giá nhất của mình, như những cô gái tội nghiệp kia đã mất.

Có một hình phạt nặng hơn cái chết.

Chính là để hắn sống lúc này. 

Đối với tên dâm tặc, không còn công cụ gây án là hình phạt vô cùng khủng khiếp. 

Tôi điểm huyệt giúp hắn cầm máu, để hắn tự sinh tự diệt. 

Rồi bế Tiểu Long Nữ đi.

Nàng bị trúng thuốc, cần phải giải quyết. 

Xuân dược của Tử Y Hồ nổi danh giới hắc đạo. 

Nữ nhân uống vào, không được thoả mãn, nhất định sẽ đứt mạch máu não, không chết thì cũng biến thành ngớ ngẩn. 

Tôi va Tiểu Long Nữ đã có tầng quan hệ kia. 

Phương pháp giúp nàng ấy thật đơn giản. 

Nhưng tôi không muốn một lần nữa, nàng phải ở nơi dã ngoại làm chuyện này. 

Tôi bế nàng vào thị trấn, thuê một gian phòng đẹp, đặt nàng vào bồn nước ấm tắm rửa giúp nàng. 

Thuốc mê của Tử Y Hồ cũng thật là mạnh. 

Ngâm trong nước, nàng vẫn không tỉnh lại. 

Tôi lau khô, đặt nàng lên giường, ngắm nhìn không biết chán. 

Lần này, vì cứu nàng mà thôi.






Xem them video tren kenh YouTube →